Đức Định Quốc Công 定 國 公
Húy NGUYỄN BẶC 阮 匐
(924-979)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Các nhà sử học đều thống nhất quan điểm xác định: Thái Thủy tổ dòng họ Nguyễn ở nước ta là Định Quốc công Nguyễn Bặc, quê ở sách Bồng, thôn Đại Hữu, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, Ninh Bình.
Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, chép rằng, Ngài là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (Ninh Bình), con trai của Ngài Nguyễn Thước là bộ tướng của Dương Đình Nghệ (triều Nam Hán cho làm An Nam Tiết độ sứ từ năm 931 đến năm 937) và của Ngô Quyền (939-944). Thuở nhỏ, Ngài kết nghĩa huynh đệ với Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Trịnh Tú và Lưu Cơ. Do đó, khi nhà Ngô suy vong, Ngài cùng Đinh Điền, Trịnh Tú và Lưu Cơ, cùng hai người anh là Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục, đều theo Đinh Bộ Lĩnh hùng cứ ở Hoa Lư. Năm 965, khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận, loạn 12 sứ quân nổi lên quấy phá, Ngài đã cùng các bộ tướng của Đinh Bộ Lĩnh đem quân đánh dẹp, lập nên nhiều công trạng. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua (Hoàng Đế Đinh Tiên Hoàng), Ngài được phong làm Định Quốc công, trông coi việc nội chính.(1). Trong suốt thời kỳ từ năm 971 cho đến năm 979, Ngài làm tể tướng, Đinh Điền làm ngoại giáp, Trịnh Tú làm sứ quan và Lưu Cơ làm đô hộ phủ sĩ sứ, trở thành “tứ trụ” của triều đại nhà Đinh.
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại. Quan Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích bị nghi là thủ phạm hàng đầu, sợ hãi bỏ trốn. Ba ngày sau, phát hiện Đỗ Thích, Định Quốc công Nguyễn Bặc đã cho quân lính bắt giết và cùng các đại thần tôn phò con nhỏ của Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn lên ngôi, tức là Đinh Phế Đế. Mẹ Phế Đế là Dương Vân Nga trở thành Thái hậu.
Tuy nhiên, một số ý kiến của các nhà nghiên cứu hiện nay cũng đưa ra những tài liệu khảo cứu chứng minh, Đỗ Thích là người bị oan; chủ mưu chính của vụ sát hại Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn là Lê Hoàn và Thái hậu Dương Vân Nga. Sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, ghi rằng: Lúc đó, Định Quốc công Nguyễn Bặc cùng quan ngoại giáp Đinh Điền làm phụ chính cho Phế Đế. Song, do Thái hậu Dương Vân Nga tư thông với Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, cho Lê Hoàn làm Phó vương, nắm quyền chỉ huy quân đội, chuyên quyền, tự do ra vào cung cấm. Là bậc tôi trung, Định Quốc công Nguyễn Bặc lo lắng bàn với Đinh Điền, Phạm Hạp khởi binh, chia hai đường thủy bộ cùng tiến đánh Lê Hoàn. Ngài và Đinh Điền kéo quân từ châu Ái (nay thuộc Thanh Hoá), định kéo thẳng đến kinh đô để giết Lê Hoàn. Nhưng nghe tin, Dương Thái hậu bảo Lê Hoàn sắp xếp binh lính chặn đánh ở Ái Châu. Lê Hoàn vốn là người giỏi dùng binh, đội quân của Định Quốc công Nguyễn Bặc và Đinh Điền không chống nổi, liền đem quân thủy ra đánh. Lê Hoàn theo chiều gió, phóng lửa đốt cả thuyền chiến. Đinh Điền bị chết tại trận, còn Ngài bị Lê Hoàn bắt đưa về kinh đô và giết hại (2). Ngài mất năm 56 tuổi, cùng sinh một năm và mất cùng một năm với Vua Đinh Tiên Hoàng.
Năm Đinh Dậu - 1917, Định Quốc công Nguyễn Bặc được vua Khải Định sắc phong là Hộ Quốc Tướng Công Trác Võ Thượng Đẳng Phúc Thần.
2 - LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ:
Lăng Ngài táng ở sách Bồng, thôn Đại Hữu, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, Ninh Bình.Lăng được trùng tu vào năm Kỷ Tỵ (1989).
Lăng của Định Quốc công Nguyễn Bặc và khu lăng mộ của tổ tiên Ngài, phát tích cho cả dòng họ Nguyễn ở nước ta. Khu lăng mộ này nằm trên núi Hổ, hướng Nam đối diện khu mộ phát tích của họ Đinh nằm trên núi Kỳ Lân hướng Bắc.
Về đền thờ, ngài được thờ nhiều nơi
- Chính thức là ngôi từ đường tại xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình.
- Tại đền thờ của vua Đinh Tiên Hoàng ở xã Trường Yên (Hoa Lư, Ninh Bình) dựng từ thế kỷ XI. Đền có 3 tòa: Tòa ngoài là bái đường, tòa giữa gọi là Thiên Hương thờ tứ trụ triều đình nhà Đinh: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ. Tòa trong cùng là chính cung, thờ Đinh Tiên Hoàng , Đinh Liễn, Đinh Toàn và Đinh Hạng Lang.
- Tại thôn Vân Hà làng Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh Bình) có ngôi đền thờ 3 vị anh hùng đào viên kết nghĩa là Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc và Đinh Điền.
- Tại làng Thanh Trì (Hà Nội), có ngôi đền chung của 3 xã: Cương Ngô, Cổ Diễn, Đồng Tri thờ chung hai anh em Ngài Nguyễn Bặc và Nguyễn Bổ, ngoài ra ở mỗi xã đều có đình thờ riêng hai Ngài.
- Đặc biệt, tại huyện Hoa Lư (Ninh Bình) có 4 thôn đều có đình thờ Ngài làm Thành Hoàng. Năm Canh Thân (1980) chi họ Nguyễn Đình rước tượng Ngài về thờ ở từ đường của chi họ cùng thôn.
- Tại kinh thành Phú Xuân (Huế) vua Minh Mạng cho xây miếu Lịch Đại Đế Vương để thờ các vị vua và danh tướng qua các triều đại trong đó có Ngài Nguyễn Bặc.
- Năm Đinh Dậu (1917) Ngài được vua Khải Định sắc phong là Hộ Quốc Tướng Công Trác Võ Thượng Đẳng Phúc Thần.
3 - GIA ĐÌNH
Vợ và con:
Về gia đình, chỉ biết Ngài có hai người con trai là Nguyễn Đê và Nguyễn Đạt.
Anh chị em:
NGUYỄN BỔ 阮 匍. Ông là anh trai của Ngài.
Ông là một vị tướng của Đinh Tiên Hoàng. Năm Đinh Mão (967) ông được cử đi đánh Nguyễn Siêu, một sứ quân có binh lực lớn, đóng ở Đông Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội ngày nay) và bị tử trận.
Ông được thờ chung với Ngài ở các đình thuộc làng Thanh Trì (Hà Nội).
Khảo cứu tư liệu lịch sử và gia phả dòng họ Nguyễn ở huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa), trong đó có tư liệu gia phả do Nguyễn Lữ soạn vào đầu thế kỷ XVI, các nhà nghiên cứu khẳng định: Hoằng Hóa là quê hương thứ hai của Định Quốc công Nguyễn Bặc. Do bởi, khi Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại, Thái hậu Dương Vân Nga giao cho Lê Hoàn nắm quyền chỉ huy quân đội, chuyên quyền, tự do ra vào cung cấm, Định Quốc công Nguyễn Bặc đã đi Châu Ái (Thanh Hóa) tuyển mộ quân chống lại và đưa gia đình về đây lánh nạn…
Một số tư liệu khác cũng ghi rằng, hai con trai của Nguyễn Bặc lánh nạn ở Bắc Giang, và từ đó cùng với quốc sư Vạn Hạnh mưu kế tôn phò Lý Công Uẩn lên làm vua. Tiếp đó, trong thời Lý - Trần, nhiều lần sau các vụ như Đỗ Anh Vũ bắt Nguyễn Dương (đời thứ 7) nhảy xuống giếng tự vẫn và bắt Nguyễn Quốc (đời thứ 7) uống thuốc độc, sự xung đối của Nguyễn Nộn (đời thứ 8) với Trần Thủ Độ, quân Nguyên-Mông ba lần sang xâm lược, Hồ Quý Ly (làm vua từ năm 1400 đến năm 1401) giết 389 trung thần của nhà Trần, Giản Định Đế (1407-1409) và Trung Quan Đế (1409-1413) chống giặc Minh, hậu duệ Nguyễn Bặc phải bỏ chạy lánh nạn chu di. tru di Đến Nguyễn Biện, hậu duệ đời thứ 16 của Nguyễn Bặc, sau khi bố tên là Nguyễn Minh Du bị giết, đã chạy sang sách Gia Hưng, và được an táng ở đó, tại núi Thiên Tôn.
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV, 13 đời dòng họ Nguyễn tiếp tục phò nhà Hậu Lý, rồi nhà Trần, rồi chống Hồ Quý Ly và phò nhà Hậu Trần vào đầu thế kỷ XV.
Đến đời thứ 18, các cháu của Nguyễn Biện bắt đầu tham gia khởi nghĩa Lam Sơn rất sớm – ngay từ hồi hội thề Lũng Nhai năm 1416. Đó là Nguyễn Lý (con của Nguyễn Tác, chi trưởng), sang cư trú ở thôn Đào Xá (Lam Sơn). Sau khi mất, Nguyễn Lý được thờ cùng đền với Nguyễn Bặc ở xã Ngô Khê Hạ (huyện Gia Viễn, Ninh Bình), nơi Lê Hoàn hành hình Thái Thuỷ tổ họ Nguyễn. Thứ nữa là Nguyễn Dã (con thứ 3 của Nguyễn Chư). Sau vụ Trần Nguyên Hãn bị oan phải nhảy xuống sông tự vẫn và Nguyễn Trãi bị hạ ngục vào năm 1429, Nguyễn Dã sợ bị liên lụy, cùng với hai con trai và đám người thân thuộc chạy sang Vân Nam, đổi thành họ Ngạc. Tiếp nữa là Nguyễn Công Duẫn (con của Nguyễn Chư, chi thứ). Đến tuổi già, Nguyễn Công Duẫn được coi việc quân dân ở huyện nhà, và xin đổi huyện Tống Giang thành huyện Tống Sơn, thôn Gia Hưng thành Gia Miêu Ngoại trang. Nguyễn Lý, Nguyễn Dã và Nguyễn Công Duẫn được phong Bình Ngô khai quốc công thần, ban quốc tính. Nguyễn Đức Trung (đời thứ 19) là con trai cả của Nguyễn Công Duẫn, vào năm 1460 cùng với hai em ruột Nguyễn Nhân Chính và Nguyễn Nhân Hiếu tham gia hạ bệ Nghi Dân, tôn phò vua Lê Thánh Tông, và được phong Tán trị công thần. Nguyễn Thị Ngọc Hằng (đời thứ 20), con gái thứ 2 của Nguyễn Đức Trung , được tuyển làm sung nghi của vua Lê Thánh Tông, sinh ra vua Lê Hiến Tông, năm 1470 được lập làm quý phi, năm 1497 – Hoàng Thái hậu và năm 1504 – Thái Hoàng Thái hậu. Trường Lạc Cung vừa mới được khai quận ở khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu, Hà Nội, chính là nơi ở của bà từ năm 1497…
Vào năm 1558, một bộ phận hậu duệ không nhỏ của các dòng-chi họ Nguyễn đi vào Đàng Trong phò chúa Nguyễn Hoàng. Các chi ở lại ngoài Bắc và tiếp tục phục vụ chính quyền Lê - Trịnh bắt buộc phải giấu gốc tích thực sự của mình, như dòng họ Nguyễn Cảnh ở xã Nông Sơn (huyện Nam Đường, Nghệ An)...
Ghi chú:
(1) Tân Mùi, [Thái Bình] năm thứ 2 [971], (Tống Khai Bảo năm thứ 4). Bắt đầu quy định cấp bật văn võ, tăng đạo. Lấy Nguyễn Bặc làm Định quốc công, Lưu cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư (Chức quan coi việc hình ngục), Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân (Bấy giờ trong nước chia làm mười đạo. Thập đạo tướng quân tương tự như Tổng tư lệnh quân đội bây giờ), Tăng thống (chức quan phong cho vị sư được triều đình coi là người đứng đầu Phật giáo) Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục (chức quan trông coi Phật giáo dưới chức Tăng thống), Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng chân uy nghi (chức quan trông coi về đạo giáo).
Trích: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Bản Kỷ - Quyển I.
(2) Theo truyền thuyết thì Ngài bị hành hình trên bãi đất bên bờ sông Chanh ở ngoại thành Hoa Lư.
Theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả
Đô Hiệu Kiểm 都 校 檢
Húy NGUYỄN ĐÊ 阮 低
(?_?)
Đời thứ II Nguyễn Đê, Hữu Thân Vệ Triều Tiền Lê, Đô Hiệu Kiểm Chánh Nhị Phẩm , Tước hầu đời nhà Lý
Nguyễn Đê là con trai đầu của Định Quốc công Nguyễn Bặc. Về năm sinh, năm mất của Nguyễn Đê chưa thấy tài liệu nào nói tới. Chỉ biết rằng, khi cha ông còn tại chức trong triều đình Hoa Lư thời Đinh Tiên đế thì ông luôn được bên cạnh Người, được nuôi dạy cả về văn chương và võ nghệ. Sau khi Nguyễn Bặc bị Lê Đại Hành bắt đem về kinh sư Hoa Lư hành quyết, Nguyễn Đê cùng em trai là Nguyễn Đạt và gia quyến bỏ kinh thành Hoa Lư, bỏ làng Đại Hữu, chạy lên Kinh Bắc (Bắc Ninh) để lánh nạn. Nguyễn Đê được nhà Sư Vạn Hạnh che giấu nên đã vào triều Lê Hoàn làm Hữu Thân Vệ khi Lý Công Uẩn làm Tả Thân Vệ.
1 - THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Đê, Con trưởng cùa Định Quốc Công Nguyễn Bặc. Khi Định Quốc Công bị hại, phu nhân cùng với hai con là ngài và Nguyễn Đạt chạy về lánh nạn ở Gia Miêu (Tống Sơn, Thanh Hóa).
Sau đó, ngài cùng em ra học ở Kinh Bắc (Bắc Giang); ngài giao du với nhiều hào kiệt và là bạn thân của Lý Công Uẩn. Dưới triều vua Lê Long Đỉnh, Lý Công Uẩn giữ chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, ngài giữ chức Hữu Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, đều là các vị đại tướng bảo vệ kinh thành Hoa Lư. Vua Lê Long Đỉnh (còn gọi là Lê Ngọa Triều) độc ác, tàn bạo, làm mọi người oán ghét. Vì vậy khi nhà vua mất vào năm Kỷ Dậu (1009), nhân con còn nhỏ, ngài cùng Đào Cam Mộc và quần thần tôn Lý Công Uẩn lên làm vua lập nên nhà triều đại nhà Lý.
Ngài là cận thần thân tín của vua Lý, lập được nhiều công trạng, được phong là Đô Hiệu Kiểm, tước hầu.
2 - LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ: Ngày mất hoặc lăng mộ và các nơi thờ tự của ngài không được rõ.
3 - GIA ĐÌNH:
3a. Vợ và con: Về gia đình, chỉ biết ngài có ba người con trai là :
Nguyễn Quang Lợi. Thái Úy Hòa Quốc Công
Nguyễn Viễn. ĐỆ TAM TỔ TẢ TƯỚNG QUỐC.
Nguyễn Phúc Lịch.
3b. Anh chị em:
NGUYỄN ĐẠT (阮 達) Ông là em của ngài, tiểu sử không rõ. Ông lập ra một chi họ Nguyễn ở Điềm Xá (Yên Phong, Hà Bắc).
Ghi chú:
(1) Theo quan chế nhà Lý, Đô Hiệu Kiểm có cấp bậc chánh nhị phẩm.
Đức Tả Tướng Quốc 左 相 國
Húy NGUYỄN VIỄN 阮 遠
(?_?)
1 - THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Viễn, Con thứ hai của Đô Hiệu Kiểm Nguyễn Đê.
Ngài làm quan dưới triều các vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) và Lý Nhân Tông (1072 - 1127). Ngài là một cựu thần có công lao nên được vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127). Ngài là một cựu thần có công lao nên được vua Lý Nhân Tông phong làm Tả Tướng Quốc, Tham Tri chính sự.
Có gia phả chép ngài và anh của ngài là Nguyễn Quang Lợi đều là tỳ tướng của Lý Thường Kiệt.
2 - LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ: Ngày mất hoặc lăng mộ và các nơi thờ tự của ngài không được rõ.
3 - GIA ĐÌNH:
Vợ và con
Về gia đình, chỉ biết ngài có một người con trai là Nguyễn Phụng.
Anh chị em
Ngài có hai anh em trai, về chị em gái không rõ.
1 .NGUYỄN QUANG LỢI: Hòa Quốc Công (阮光 利). Ông là con trưởng của Ngài Nguyễn Đê.
Ông làm quan dưới triều vua Lý Thái Tổ (1009 - 1028) đến chức Đô Chì Huy Sứ. Khi vua Lý Thái Tổ băng hà, các hoàng tử tranh ngôi, ông cùng Lê Phụng Hiểu dẹp nội loạn và lập vua Lý Thái Tông lên ngôi. Năm Mậu thìn (1028), ông được phong chức Thái Úy Hòa Quốc Công.
Ông có một người con trai tên là Nguyễn Nghĩa (có nơi chép là Nguyễn Nghĩa Trường).
Con cháu của ông truyền xuống gồm Nguyễn Nghĩa (làm quan chức Viên Ngoại Lang), đến Nguyễn Quốc (làm quan chức Đại Tư Đồ), đến Nguyễn Giới (làm quan chức Thượng Thư Bộ Hình) v.v…
2 .NGUYỄN PHÚC LỊCH: (阮 福 曆) Thái Bảo. Ông là con thứ ba của Đô Hiệu Kiểm Nguyễn Đê.
Ông làm quan dưới các triều vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127) và Lý Thần Tông 1127-1138). Có tài liệu chép tên ông là Nguyễn Phúc.
Con cháu của ông truyền xuống gồm Nguyễn Dương (làm quan chức Thái Bảo) và về sau truyền xuống đến ông Nguyễn Thuyên (đời Trần, nổi tiếng về thơ văn nôm thời kỳ đầu tiên).
* * *
Đến đời đệ tam tổ, một số nghi vấn về niên đại đặt ra. Theo một số tài liệu và gia phả thì tiểu sử các ngài (Nguyễn Viễn, Nguyễn Quang Lợi, Nguyễn Phúc Lịch) được ghi chép như trên. Nhưng khi tính toán lại niên kỷ của các vị, trừ ngài Nguyễn Đê được các tài liệu và gia phả công nhận là đời thứ hai, kế tiếp đức Thủy Tổ Nguyễn Bặc, còn thế thứ của các vị về sau đều là nghi vấn (các gia phả của các chi họ Nguyễn chép thế thứ các vị khác nhau).
Điều chúng ta biết được là sau đời đệ nhị tổ Nguyễn Đê, họ Nguyễn được phân thành ba nhánh: nhánh (1) thuộc dòng Nguyễn Quang Lợi, nhánh (2) thuộc dòng Nguyễn Viễn truyền trực tiếp xuống họ Nguyễn Phúc và nhánh (3) thuộc dòng Nguyễn Phúc Lịch.
Các anh em: dâu rể:
Thái Úy Hòa Quốc Công - Nguyễn Phúc Lịch.
Con cái:
Tả Đô Đốc Nguyễn Phụng (?-1150)
Đức Tả Đô Đốc 左 都 督
Húy NGUYỄN PHỤNG (阮 奉)
(?_1150)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Tả Đô Đốc húy là Nguyễn Phụng, con trưởng của Tả Tướng Quốc Nguyễn Viễn.
Ngài làm quan chức Tả Đô Đốc dưới triều vua Lý Anh Tông (1138 - 1175). Năm Ất sửu (1145) ngài dâng lên vua con rùa mắt có 6 ngươi, ức có 4 chữ "Vương dĩ công pháp" (Vua theo việc công).
Về sau, thân vì liên quan đến việc chống Đỗ Anh Vũ mà ngài bị sát hại.
Đỗ Anh Vũ tư thông với Thái hậu (họ Lê) lúc bấy giờ đang cầm quyền nhíp chính. Đỗ được quyết đoán mọi việc, tự do ra vào cung cấm, khinh rẻ đình thần nên các quan trong triều là Vũ Đái, Nguyễn Dương, Nguyễn Quốc đều lo việc mưu trừ Đỗ Anh Vũ. Việc không thành nên Vũ Đái cùng 20 người liên can đều bị hại. Theo tài liệu các gia phả, Nguyễn Phụng, Nguyễn Quốc và Nguyễn Dương đều bị hại trong dịp này.
Ngài mất vào năm Canh Ngọ (1150). Như vậy, dưới triều Lý Anh Tông, họ Nguyễn có 3 người làm quan to đều bị giết hại.
Lăng mộ, gia đình đều không rõ.
Dựa vào các gia phả xưa của các chi họ Nguyễn ở miền Bắc (ghi chép khá giống nhau) và sử liệu, chúng ta có thể lập phả từ đức Thủy Tổ Nguyễn đến ngài Nguyễn Phụng như sau:
I. Nguyễn Bặc (924-979)
II. Nguyễn Đê
Nguyễn Đạt
Nhánh (1) Nguyễn Quang Lợi
III. Nhánh (2) Nguyễn Viễn (? -?)
Nhánh (3) Nguyễn Phúc Lịch
Nguyễn Nghĩa
IV. Nguyễn Phụng (? - 1150)
Nguyễn Dương (? - 1148)
Nguyễn Quốc (? - 1158)
V. Nguyễn Nộn (? - 1229)
.........................
Nguyễn Thuyên (? - 1282)
Nhánh (2) là nhánh truyền xuống dòng họ Nguyễn Phúc. Để có thể tính toán phỏng chừng thời đại mà các ngài đang sống, chúng ta có thể dựa vào những sự kiện lịch sử xác thực như vua Lý Thái Tổ lên ngôi, việc mưu giết Đỗ Anh Vũ không thành v.v... năm sinh và năm mất của các vị có danh trong lịch sử. Nhìn vào phả đồ, chúng ta có những nhận xét sau:
Đức Thủy Tổ làm quan thời Đinh Tiên Hoàng, ngài Nguyễn Đê làm quan thời Lê Long Đỉnh chuyển sang Lý Thái Tổ, sự kiện lịch sử và niên kỷ phù hợp với thế thứ (cha ---> con). Truyền xuống các đời sau, từ đức Thủy Tổ đến ngài Nguyễn Phụng, hai năm mất cách nhau 170 năm mà chỉ cách nhau 3 khoảng thế hệ là quá ít: Ngài Nguyễn Đê làm Hữu Thân Vệ năm 1009 (Năm Lý Công Uẩn lên ngôi), giả thử ngài sinh năm 955 lúc Thủy Tổ 32 tuổi, thì lúc đó ngài 54 tuổi được xem là phù hợp. Bây giờ, giả thử các ngài đều đến 40 tuổi mới sinh con thì ngài Nguyễn Viễn sẽ sinh năm 995 và ngài Nguyễn Phụng sinh năm 1035. Ngài Nguyễn Phụng mất năm 1150 (năm chính xác đúng với sự kiện lịch sử Đỗ Anh Vũ) là ngài thọ 115 tuổi, đều này vô lý.
Như vậy, nếu ngài Nguyễn Viễn là con ngài Nguyễn Đê thì phải cách 2 hoặc 3 đời mới đến ngài Nguyễn Phụng. Còn nếu ngài Nguyễn Viễn đúng là phụ thân của ngài Nguyễn Phụng thì ngài Nguyễn Viễn phải cách ngài Nguyễn Đê 2 hoặc 3 đời. Trường hợp ngài Nguyễn Phụng và ngài Nguyễn Nộn cũng tương tự như vậy.
Chúng ta có thể kết luận là các gia phả xưa của các chi họ Nguyễn, khi chép thế thứ các đời 1, 2, 3, 4 v.v... có lẽ chỉ chép tên các ngài có danh trong lịch sử chứ không phải theo thứ tự (cha --->con) hoặc là việc sao chép có bỏ sót một số đời do các lần gia biến: năm 979 đức Thủy tổ bị hại, các năm 1150 - 1158 ba ngài Nguyễn Dương, Nguyễn Phụng, Nguyễn Quốc bi hại.
Vì vậy, khi chép phần "Thủy Tổ Phả" chúng tôi không gọi đời thứ 1, đời thứ 2, v.v...đòi hỏi sự kế tục từ đời này sang đời khác mà còn gọi Thủy Tổ, đệ nhất tổ, đệ nhị tổ v.v...có nghĩa là ghi chép các vị tổ thời xa xưa của dòng họ Nguyễn, không đòi hỏi các vị này nối tiếp nhau theo đời.
Đức Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương 懷 道 孝 武 王
Húy NGUYỄN NỘN 阮 嫩
(?_1229)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Đức Hoài Đạo Vương húy là Nguyễn Nộn người xã Phù Dực (Tiên Du, Bắc Ninh).
Lúc còn trẻ, ngài làm cư sĩ, sống ẩn ở chùa Phù Dực (Phù Đổng, Bắc Ninh). Tháng 8 năm Mậu Dần (1218) vua xuống chiếu bắt tội ngài vì ngài đào được vàng ngọc và thần kiếm mà không đem dâng.
Năm Kỷ Mão (1219), Trần Tự Khánh xin vua tha tội cho ngài nhưng buộc phải đi đánh giặc để chuộc tội. Tháng 10 năm Kỷ Mão, ngài đem quân đi đánh người Man ở Quảng Oai.
Tháng 3 năm Canh Thìn (1220) Ngài thấy họ Trần chuyên quyền bèn chiếm cứ làng Phù Đổng, tự xưng là Hoài Đạo Vương. dâng biểu xưng thần, xin đi dẹp loạn để chuộc tội. Vua sai người đem sắc thư đến tuyên dụ. Song vì vua có bệnh phong, không thể chế ngự được. Thanh thế của Ngài ngày càng mạnh, lan dần cả vùng Bắc Giang. Lúc này, nhà Lý sắp mất vào tay họ Trần, lòng người ly tán, giặc giã nổi lên khắp nơi. Hai thế lực mạnh hơn cả là Đoàn Thượng và Ngài, chiếm cứ vùng Bắc Giang.
Tháng 3 năm Bính Tuất Canh Thìn (1226), Trần Cảnh được vợ là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, lập nên nhà Trần. Trần Thủ Độ được phong làm Thái sư, thống quốc hành quân, đi đánh dẹp các nơi chưa chịu hàng phục. Vì thế lực của ngài và Đoàn Thượng còn mạnh nên Trần Thủ Độ phải cắt đất phong Vương cho hai vị để giảng hòa.
Năm Đinh hợi (1227), ngài cất quân đi đánh Đoàn Thượng. Hai bên kịch chiến ở xứ Đồng Đao (Bắc Ninh). Đoàn Thượng thua bỏ chạy và nằm chết trên gò đất ở xã Yên Nhân (Hải Dương). Con Đoàn Thượng là Đoàn Văn đem gia thuộc đến hàng ngài. Thanh thế ngài càng lừng lẫy, Ngài tự xưng là Đại Thắng Vương.
Trần Thủ Độ thấy thế lực ngài mạnh nên rất lo, vừa chia quân chống giữ vừa sai sứ mang sắc thư đến chúc mừng và gia phong cho ngài làm Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương (1), Trần Thủ Độ còn gả công chúa Ngoạn Thiềm cho ngài.
Năm Kỷ sửu (1229), tháng ba có nhật thực, ngài bi bệnh mà mất. Từ đó nhà Trần mới thật sự thống nhất đất nước.
Dòng họ Nguyễn các đời trước đều làm võ tướng lập nên sự nghiệp, truyền đến ngài, không rõ lý do vì sao ngài lại ẩn cư ở chùa. Nhưng số mệnh đưa đẩy, ngài trở lại con đường võ nghiệp của cha ông, lập nên chiến công lừng lẫy, đối địch với nhà Trần, xưng vương riêng một cõi. Quả thật ngài cũng là bậc anh hùng sánh ngang với đức Thủy Tổ Nguyễn Bặc.
Ngoài ra, ngài có công biên soạn gia phả dòng họ Nguyễn (2). (Không được kiểm chứng).
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ:
Sau khi ngài mất dân địa phương xã Phù Dực (Tiên Du, Bắc Ninh) lập đền thờ gọi là đền thần Hoài Đạo để thờ ngài. Các huyện Đông Ngàn, Tiên Du (Bắc Ninh) đều thờ ngài làm phúc thần. Trải qua các triều đại, ngài được phong làm Thượng đẳng tối linh thần (3) . Không rõ lăng ngài táng ở đâu.
- GIA ĐÌNH
Các vị phu nhân
.1. (khuyết danh) Hoài Đạo Vương phu nhân
.2. TRẦN THỊ NGOẠN THIỀM.蔯 氏 玩 蟾
Bà là con của quan Phụ quốc Thái úy Trần Thừa và là em của Trần Thái Tông.
Trần Thủ Độ gả bà cho ngài với mục đích giảng hòa và thăm dò nội tình của vùng ngài chiếm cứ.
Con trai và con gái:
Ngài có 5 người con trai, con gái không rõ.
Con trai: Con gái
1. Nguyễn Thế Tứ. không rõ.
2. Nguyễn Long.
3. Nguyễn Hiến.
4. Nguyễn Thức.
5. Nguyễn Diễn
Anh chị em: Không rõ
Ghi chú:
(1) Có tài liệu ghi tước hiệu của Ngài là: Hoài Đạo Hiếu Võ Đại Thắng Vương (懷 道 孝 武 大 勝 王)
(2) Nguyễn Quốc (nhánh trưởng) là người biên soạn gia phả đầu tiên, sau này có Nguyễn Thuyên (nhánh thứ ba) cũng biên soạn gia phả công phu và chép bằng chữ Nôm. (Không được kiểm chứng)
(3) Theo một số gia phả, có 72 nơi thờ Ngài làm Phúc Thần. Thần vị Ngài ở đình Phù Dực do bị dột nát, được đưa vào thờ ở đền Phù Đổng Thiên Vương. (Không được kiểm chứng), mới thờ vào năm 1985.
Đức Đô Hiệu Kiểm 都 校 檢
Húy NGUYỄN THẾ TỨ 阮 世 賜
(?_?)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Thế Tứ (Có nơi chép là Nguyễn Tứ), con trưởng của Hoài Đạo Vương Nguyễn Nộn.
Ngài làm quan dưới triều Trần Thái Tông (1225 - 1226) chức Đô Hiệu Kiểm (1)
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ. Không rõ
- GIA ĐÌNH
Vợ và con
Theo các tài liệu để lại, ngài có 7 người con trai (có phả ghi là 9 người con) nhưng chỉ biết được danh tánh hai vị: Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cánh.
Anh chị em
Ngài có 4 em trai, chị em gái không rõ.
Nguyễn Long 阮 龍 Thái Phó.
Ông là con thứ hai của Hoài Đạo Vương. Khi Hoài Đạo Vương mất, ông theo về nhà Trần, giữ chức Chỉ Huy Sứ, Trần Nhân Tông (1279 - 1293) phong ông chức Thái Phó, tước Quận Công. Con cháu không rõ.
Nguyễn Hiến 阮 憲 Chỉ Huy Sứ.
Ông là con thứ ba của Hoài Đạo Vương. Khi Hoài Đạo Vương mất, ông theo về nhà Trần, giữ chức Chỉ Huy Sứ, được phong tước hầu. Con cháu không rõ.
Nguyễn Thức 阮 識 Tả Đô Đốc.
Ông là con thứ tư của Hoài Đạo Vương. Ông xuất thân ngành võ. Năm Đinh hợi (1278) Trần Nhân Tông phong ông là Tả Đốc quản quân Thánh Dực và Nghĩa Dũng. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, ông lập được nhiều công trạng. Con cháu không rõ.
Nguyễn Diễn 阮 演 Viên Ngoại Lang.
Ông là con thứ năm của Hoài Đạo Vương. Ông làm quan chứa Viên Ngoại Lang Trần Thánh Tông. Cuối năm Tân Dậu (1261), vua Lê Thánh Tông cử ông cùng Trần Phụng Công, Nguyễn Thám đi sứ nước Tàu (triều nhà Nguyên). Con cháu không rõ.
Ghi chú:
(1) Theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Đô Hiệu Kiểm có hàm chánh nhị phẩm. Có phả chép chức của Ngài là Kiểm Hiệu (檢 校) hoặc Đô Hiệu Kiểm (都 校 檢).
Anh Em
1- Ngài Nguyễn Thế Tứ 阮 世 賜 - Đức Đô Hiệu Kiểm 都 校 檢
Hữu Hiệu Điểm 右 校 點
Húy NGUYỄN CÔNG LUẬT 阮 公 律
(?_1388)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Công Luật con trưởng của Bình Man Đại Tướng Quân Nguyễn Nạp Hòa.
Cuộc đời làm quan của ngài ở giai đoạn đầu không rõ ràng. Ngài làm quan dưới hai triều vua Trần Duệ Tông (1374-1377) và Trần Phế Đế (1377-1388), từng giữ các chức Giám Quân Thiên Trường (bảo vệ hoàng cung), Hữu Hiệu Điểm v.v…
Năm Mậu thìn (1388), Trần Phế Đế bàn mưu với Trang Định Vương Trần Ngạc giết Hồ Quý Ly để trừ hậu họa. Có kẻ tiết lộ việc này cho Hồ Quý Ly biết. Lúc bấy giờ Hồ Quý Ly nói gì cũng được Thượng Hoàng Nghệ Tông nghe theo. Vì vậy, Hồ Quý Ly lấy cớ Phế Đế đã giết Ngự Câu Vương Trần Húc (con của Thượng Hoàng), Xin Thượng Hoàng lập vua khác. Phế Đế bị Thượng Hoàng giáng xuống làm Minh Đức Đại Vương. Sau đó Phế Đế bị thắt cổ chết ở phủ Thái Dương. Những người theo Phế Đế đều bị hại.
Ngài bị giết hại theo Phế Đế vào năm Mậu thìn (1388).
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ: Không rõ
- GIA ĐÌNH
Vợ và con
Về gia đình, chỉ biết ngài có ba người con trai là Nguyễn Công Sách, Nguyễn Hách (1) và Nguyễn Minh Du. Trong vụ thảm sát năm Mậu Thìn (1388), 3 người con của ngài đều bị bắt. Về sau, người con thứ hai là Nguyễn Hách trốn thoát được.
Anh chị em: Không rõ.
Ghi chú:
(1) Có nhiều phả chép là Nguyễn Hố.
Hữu Hiệu Điểm 右 校 點
Húy NGUYỄN CÔNG LUẬT 阮 公 律
(?_1388)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Công Luật con trưởng của Bình Man Đại Tướng Quân Nguyễn Nạp Hòa.
Cuộc đời làm quan của ngài ở giai đoạn đầu không rõ ràng. Ngài làm quan dưới hai triều vua Trần Duệ Tông (1374-1377) và Trần Phế Đế (1377-1388), từng giữ các chức Giám Quân Thiên Trường (bảo vệ hoàng cung), Hữu Hiệu Điểm v.v…
Năm Mậu thìn (1388), Trần Phế Đế bàn mưu với Trang Định Vương Trần Ngạc giết Hồ Quý Ly để trừ hậu họa. Có kẻ tiết lộ việc này cho Hồ Quý Ly biết. Lúc bấy giờ Hồ Quý Ly nói gì cũng được Thượng Hoàng Nghệ Tông nghe theo. Vì vậy, Hồ Quý Ly lấy cớ Phế Đế đã giết Ngự Câu Vương Trần Húc (con của Thượng Hoàng), Xin Thượng Hoàng lập vua khác. Phế Đế bị Thượng Hoàng giáng xuống làm Minh Đức Đại Vương. Sau đó Phế Đế bị thắt cổ chết ở phủ Thái Dương. Những người theo Phế Đế đều bị hại.
Ngài bị giết hại theo Phế Đế vào năm Mậu thìn (1388).
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ: Không rõ
- GIA ĐÌNH
Vợ và con
Về gia đình, chỉ biết ngài có ba người con trai là Nguyễn Công Sách, Nguyễn Hách (1) và Nguyễn Minh Du. Trong vụ thảm sát năm Mậu Thìn (1388), 3 người con của ngài đều bị bắt. Về sau, người con thứ hai là Nguyễn Hách trốn thoát được.
Anh chị em: Không rõ.
Ghi chú:
(1) Có nhiều phả chép là Nguyễn Hố.
Du Cần Công 俞 勤 公
Húy NGUYỄN MINH DU 阮 明 俞
(1330 - 1390)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Minh Du con thứ ba của Hữu Hiệu Điểm Nguyễn Công Luật.
Ngài cùng hai anh là Nguyễn Công Sách và Nguyễn Hách đều làm quan dưới triều Trần Phế Đế. Theo "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư", Nguyễn Bát Sách là người là người cùng vú nuôi với Trần Phế Đế nên có tên là Nguyễn Thánh Du. Như vậy chứng tỏ thân sinh ngài là tướng thân cận với Hoàng gia. Cũng theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, khi vua Duệ Tông tử trận vào năm Đinh Tỵ (1377), người con trưởng của nhà vua được Thượng Hoàng Nghệ Tông đưa lên ngôi mà sau này sử ghi là Trần Phế Đế (1). Qua năm sau, Mậu ngọ (1378), Trần Phế Đế cho người có cùng nhũ mẫu với mình là Nguyễn Bát Sách làm Quân quân thiết sang và hai em của Nguyễn Bát Sách là Nguyễn Hách. làm Quản quân thiết liêm và Nguyễn Thánh Du làm Quản quân thiết hổ (2). Các gia phả đều ghi Nguyễn Bát Sách là Nguyễn Công Sách. Nguyễn Thánh Du là Nguyễn Minh Du.
Trong vụ thảm sát Trần Phế Đế năm Mậu Thìn (1388), ngài bị bắt. Sau đó ngài bị Hồ Quý Ly giết vào năm Canh ngọ (1390). Có thuyết cho rằng ngài trốn thoát được và về Thanh Hóa mai danh ẩn tích.
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ: Không rõ
- GIA ĐÌNH
Vợ và con:
Về gia đình, chỉ biết ngài có ba người con trai là Nguyễn Sùng, Nguyễn Thư và Nguyễn Biện.
Anh chị em:
Ngài có hai người anh.
1- Nguyễn Công Sách, Quản quân thiết sang. Ông là con trưởng của Hữu Hiệu Điểm Nguyễn Công Luật.
Theo "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư", ông cùng vú nuôi với vua Trần Phế Đế. Năm Đinh mão (1378) vua phong ông làm Quản quân thiết sang. Cuối năm Mậu thìn (1388) vua Trần Phế Đế mưu bắt Hồ Quý Ly không thành, bị Thượng Hoàng Nghệ Tông bắt giam. Ông cùng các tướng định đem quân vào cứu vua nhưng vua yêu cầu phải tuân lệnh của Thượng Hoàng. Sau đó ông bị bắt và bị hại. Ông có một người con tên là Nguyễn Phong.
2- Nguyễn Hách, Quản quân thiết liêm. Ông là con thứ hai của Hữu Hiệu Điểm Nguyễn Công Luật.
Trong vụ thảm sát Trần Phế Đế năm Mậu Thìn (1388), ông trốn thoát về Thanh Hóa. Sau ông cùng con theo cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần (1407-1413) và bị tử trận.
***
Lời bàn về Thủy tổ phả (Ngọc phả, hoặc Phả giả sử):
Đến Đệ cửu tổ Nguyễn Minh Du, chúng ta lại gặp những nghi vấn về niên kỷ. Theo tài liệu một số gia phả, ngài có cùng nhũ mẫu với Trần Phế Đế. Theo "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư", (một tài liệu đáng tin cậy), Trần Phế Đế bị hại năm Mậu Thìn (1388), Hồ Quý Ly chọn người có danh vọng vào làm ở Xu mật viện, trong đó có hai ông Nguyễn Sùng và Nguyễn Thư đều là con trai của ngài. Vì là người có danh vọng, hai ông lúc này phải có tuổi khoảng 30, nghĩa là năm sinh của hai ông vào khoảng 1360. Tính ngược trở lại, năm sinh của ngài khoảng 1340. Năm này có thể chấp nhận được vì nó phù hợp với các đời hậu duệ kế tiếp. Như vậy, ngài không cùng vú nuôi với Trần Phế Đế và anh của ngài là Nguyễn Công Sách có lẽ không phải là nhân vật Nguyễn Bát Sách trong "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư".
Sau đời ngài, nhiều gia phả chép hậu duệ của ngài không giống nhau. Sau đây là một số phả đồ tiêu biểu lấy từ các tài liệu "Nguyễn Phước Tầm Nguyên" (gọi là P.Đ.1), "Tiên Nguyên Toát Yếu Phổ" (gọi là P.Đ.2) và "Nguyễn Gia Thế Hệ" (gọi là P.Đ.3) hoặc lấy trong hai tác phẩm viết vào đời Gia Long: Nam Hà Tiệp Lục của Lê Đản chép "Hoàng Gia Phả Hệ" (P.Đ.4) và Nam Hà Ký Văn của Đặng Trọng An chép "Hoàng Triều Ngọc Phổ" (P.Đ.5) và mục "Thế Hệ Triều Nguyễn" trong gia phả phủ Vĩnh Tường Quận Vương (P.Đ.6).
(Các phả trên, chỉ nhắc đến tên, chưa có bản gốc).
Ngoài ra, các tài liệu và nhiều gia phả cho họ Nguyễn cũng lâm vào tình trạng như vậy. Thế thứ, họ tên và chức tước các vị đều khác nhau, sắp xếp không rõ ràng, có lẽ do “tam sao thất bổn”
Ghi chú:
(1) Khi vua Duệ Tông mất, người con trưởng là Trần Hiển dược Thượng Hoàng Nghệ Tông lập làm vua, gọi là Giản Hoàng Đế. Về sau Thượng Hoàng nghe lời dèm của Hồ Quý Ly, phế Giản Hoàng Đế xuống làm Minh Đức Đại Vương.
(2) Quản quân thiết sang, thiết liêm, thiết hổ là các chức võ tướng điều khiển các đội quân chuyên sử dụng khí giới như thương, câu, móc, v.v…
Phụ Đạo Huệ Quốc Công 慧 國 公
Húy NGUYỄN BIỆN 阮 忭
(?-? 12 tháng 6 Am lịch)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Biện tự là Tiến. Ngài là con thứ ba của Du Cần Công Nguyễn Minh Du.
Khi Du Cần Công bị Hồ Quý Ly hãm hại, ngài trốn về Thanh Hóa, cư ngụ ở sơn động, chiêu tập dân miền núi, tự làm hùng trưởng (1) Khi Giản Định Đế (1407-1409) và Trùng Quang Đế (1409-1413) nhà Hậu Trần khởi nghĩa chống quân Minh, ngài thường giúp đỡ lương thực nên được giao làm Phụ Đạo sơn động, cai quản 12 trang (vì vậy ngài còn được gọi là Quản Trang). Sau ngài còn được phong làm Huệ Quốc Công. Khi nhóm Hậu Trần thất bại, ngài trở về sơn động cùng bà con cấy cày làm ăn. Ngài mất ngày 12 tháng 6 âm lịch (không rõ năm mất) thụy An Tâm.
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ: Mộ của ngài tại núi Thiên Tôn (Tông Sơn, Thanh Hóa).
- GIA ĐÌNH
Các vị phu nhân:
1- Mai Thị Luật 枚 氏 律
Bà Húy là Mai Thị Luật, thụy là Từ Tâm. Mộ của bà cũng táng tại núi Thiên Tôn.
Con trai và con gái: Ngài có 6 người con trai và 2 gái :
Con trai:
1. Nguyễn Tác
2. Nguyễn Chiếm
3. Nguyễn Trinh
4. Nguyễn Thể
5. Nguyễn Ba
6. Nguyễn Phục
Con gái:
1. Nguyễn Thị Hà
2. Nguyễn Thị Phảng
Anh chị em:
1. Nguyễn Sùng 阮 崇
Ông là con trưởng của Du Cần Công, ông là người có danh vọng, được Hồ Quý Ly mời ra làm ở Xu mật viện. Khi cha bị hại trong vụ Mậu Thìn (1388), ông bỏ trốn và mai danh ẩn tích.
Về sau, ông theo giúp nhà Hậu Trần chống lại quân Minh, Lập được nhiều công trạng, ông được phong là Tả Hiệu Điểm. Khi nhà Hậu Trần mất, ông về ở ẩn tại làng Cao Hương (Vụ Bản, Sơn Nam).
Con cháu không rõ.
2. Nguyễn Thư 阮 書
Ông là con thứ hai của Du Cần Công. Cũng như anh, ông là người có danh vọng, được Hồ Quý Ly mời ra làm ở Xu mật viện. Khi cha bị giết hại trong vụ Trần Phế Đế, ông bỏ trốn không biết đi đâu.
Con cháu không rõ.
Ghi chú:
(1) Tương tự như tù trưởng, cai quản các trang trại miền núi.
Quản Nội 管 內
Húy NGUYỄN CHIẾM 阮 佔
(?-?)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Chiếm (còn đọc là Chiêm). Ngài là con thứ hai của Huệ Quốc Công Nguyễn Biện. Lai lịch của ngài không rõ. Chỉ biết ngài theo cha ở sơn động, làm chức Quản Nội, cai quản các trang trại.
Ngài mất ngày 20 tháng 10 âm lịch (không rõ năm mất).
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ
Mộ của ngài tại núi Thiên Tôn (Tông Sơn, Thanh Hóa).
- GIA ĐÌNH :
Các vị phu nhân
1. Mai Thị Mai 枚 氏 梅
Bà Húy là Mai Thị Mai, hiệu là DIệu Nghĩa, thụy là Từ Thiện.Bà mất cùng ngày với ngài, mộ táng tại núi Thiên Tôn
Con trai và con gái
Ngài có 4 người con trai và 4 gái:
Con trai:
1. Nguyễn Sừ
2. Nguyễn Kinh
3. Nguyễn Vinh
4. Nguyễn Mẫn
Con gái:
1. Nguyễn Thị Bối
2. Nguyễn Thị Ba
3. Nguyễn Thị Cấp
4. Nguyễn Thị Luyện
Anh chị em
Ngài có 5 anh em trai và hai em gái. Chỉ biết được sơ qua hành trạng của một vị, các vị khác đều không rõ.
Anh em trai.
1. Nguyễn Tác 阮
Ông là con trưởng của Huệ Quốc Công. Tiểu sử không rõ. Về sau, ông theo giúp nhà Hậu Trần chống lại quân Minh, Lập được nhiều công trạng, ông được phong là Tả Hiệu Điểm. Ông theo cha ở sơn động, cùng với các anh em cai quản các trang trại. Ông có một người con tên là Nguyễn Bá Lân.
2. Nguyễn Trinh 阮 偵
3. Nguyễn Thể 阮 體
4. Nguyễn Ba 阮 耙
5. Nguyễn Phục 阮 伏
Chị em gái:
1- Nguyễn Thị Hà 阮 氏 荷
2- Nguyễn Thị Phảng 阮 氏 仿
Chiêu Quang Hầu 昭 光 侯
Húy NGUYỄN SỪ 阮 儲
(?-? 10 tháng 4 Âm lịch)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Sừ (có nơi đọc là Trừ). Ngài là con trưởng của Quản Nội Nguyễn Chiếm.
Ngài sống ở sơn động như các vị đời trước. Do con cháu của ngài có công lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và trong các triều vua kế tiếp, ngài được vua Lê Hiến Tông (1479-1504) truy phong chức Đại đội trưởng Chiêu Quang Hầu (mẹ vua Lê Hiến Tông là chắc nội cuả ngài).
Ngài mất ngày 10 tháng 4 âm lịch (không rõ năm mất), thụy là Nhân Phúc.
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ
Mộ của ngài tại núi Thiên Tôn (Tông Sơn, Thanh Hóa).
- GIA ĐÌNH
Các vị phu nhân:
1. Mai Thị Quang 枚 氏 光 Chính phu nhân
Bà Húy là Mai Thị Quang. Bà mất ngày 27 thang 4 âm lịch (không rõ năm), thụy là Thuận Nghĩa. Mộ táng ở Hổ Nham Sơn. Bà sinh được 2 người con trai là Nguyễn Mỹ và Nguyễn Dũ.
2. Đỗ Thị Hiệu 杜 氏 效 Thứ phu nhân
Bà Húy là Đỗ Thị Hiệu, vợ thứ hai của Chiêu Quang Hầu. Bà không có con.
3. Đỗ Thị Hoa 杜 氏 花 Thứ phu nhân
Bà Húy là Đỗ Thị Hoa (có nơi chép là Hoán), vợ thứ bai của Chiêu Quang Hầu. Tiểu sử không rõ.
Bà sinh được 5 người con trai là Nguyễn Dã, Nguyễn Công Duẫn, Nguyễn Lâm, Nguyễn Lam và một người khuyết danh.
Ngài có 7 người con trai và 4 gái
Con trai
1. Nguyễn Mỹ
2. Nguyễn Dũ
3. Nguyễn Dã
4. Nguyễn Công Duẫn
5. Nguyễn Lâm
6. Nguyễn Lam
7. (khuyết danh)
Con gái
1. Nguyễn Thị Giai
2. Nguyễn Thị Dự
3. Nguyễn Thị Biên
4. Nguyễn Thị Diễn
Anh chị em:
Ngài có 3 em trai và 4 chị em gái. Tiểu sử các vị này đều không rõ.
Anh em trai:
1. Nguyễn Kinh 阮 經
2. Nguyễn Vinh 阮 榮
3. Nguyễn Mẫn 阮 敏
Chị em gái:
1. Nguyễn Thị Bối 阮 氏 背
2. Nguyễn Thị Ba 阮 氏 杷
3. Nguyễn Thị Cấp 阮 氏 給
4. Nguyễn Thị Luyện 阮 氏 練
Đức Thái Bảo Hoằng Quốc Công 太 保 宏 國 公
Húy NGUYỄN CÔNG DUẪN 阮 公 笋
Ngày sinh: ngày 10 tháng 7 âm lịch. Ngày mất: 02 tháng 7 Âm lịch (không rõ năm mất)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Công Duẫn con thứ tư của Ngài Chiêu Quang Hầu Nguyễn Sừ (có nơi đọc là Trừ) và phu nhân Đỗ Thị Hoa (có nơi đọc là Hoán).
Lúc Bình Định Vương Khởi Nghĩa, ngài cùng anh là Nguyễn Dã theo giúp và lập được nhiều chiến công. Năm Bính thân (1416) sau ngày hội Lam Sơn, ngài đãcung cấp cho nghĩa quân 3500 thạch thóc. Năm Mậu tuất (1418) khi nghĩa quân thất thế lui giữ Linh Sơn (Núi Chí Linh) lương thực thiếu thốn, ngài đã cung cấp 5,300 thạch thóc để nuôi quân và còn đem binh giải vây, đuổi giặc sang tận đất Lào. Ngài được phong là Trợ Thuận Hầu, Bắc Vệ Quân Đội Trưởng.
Năm Bính ngọ (1425) khi Bình Định Vương tiến đánh Nghệ An, ngài đã cung cấp 5.500 thạch thóc và 500 bao muối. Trong các trận Ninh Kiều, Tốt Động (1426) và Xương Giang, Chi Lăng (1427) ngài đã hoàn thành tốt đẹp công việc vận chuyển lương thực và vũ khí.
Khi ngài giữ cửa Lê Hoa (một cửa ải ở tỉnh Lào Kai) chống nhau với giặc, tướng Minh là Mộc Thạnh sợ ngài như cọp nên gọi ngài là Hổ Đầu Tướng Quân.
Năm Mậu Thân (1428) cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thành công, vua Lê Thái Tổ tuyên dương ngài như sau: "Nhà ngươi không lười điều binh, tiến lương, vào ra nguy hiểm không quản sống chết. Nhớ công ngươi bẻ gãy ngọn giáo, làm quằn lưỡi gươm quân thù, thừa thắng đánh giặc, một mình rong ruổi đông tây, ngăn sông phá núi để lo nạn nước. Công lao ngươi mọi người đều biết, thật là cảm kích!".
Ngài được thăng làm Phụng Trực Đại Phu Đô Đốc thiêm sự, Đô Kiểm Sự, lãnh việc quân dân ở huyện Tống Sơn và được vua ban cho gần 500 mẫu ruộng, Ngài được xếp vào hàng Khai Quốc Công thần bình Ngô và được ban quốc tính Lê.
Ngài mất ngày 02 tháng 7 âm lịch (không rõ năm mất), thụy là Bảo Toàn.
- GIA ĐÌNH
Các vị phu nhân:
Mai Thị Ánh: Lệnh nhân. Bà Húy là Mai Thị Ánh. Bà mất ngày mồng 8 tháng 7 âm lịch (không rõ năm), thụy là Từ Nhân, được phong làm Lệnh Nhân. Mộ táng ở núi Thiên Tôn (Tống Sơn, Thanh Hóa).
Con trai và con gái:
Ngài có 7 người con trai và 3 gái:
Con trai:
1. Nguyễn Đức Trung
2. Nguyễn Nhân Chính
3. Nguyễn Như Hiếu
4. Nguyễn Như Trác
5. Nguyễn Văn Lỗ
6. Nguyễn Văn Lễ
7. Nguyễn Bá Cao
Con gái:
1. Nguyễn Thị Phát
2. Nguyễn Thị thai (Hai)
3. Nguyễn Thị Ba
. Anh chị em:
Ngài có 5 anh em trai và 4 chị em gái..
1. Nguyễn Mỹ 阮 美 Thiên Hộ Hầu
Ông là con trưởng của Chiêu Quang Hầu. Ông theo Bình Định Vương từ lúc ban đầu của cuộc khởi nghĩa. Ông lập được nhiều công trạng, được phong Thiên Hộ Hầu. Con cháu không rõ.
2. Nguyễn Dũ 阮 愈 Thị Cận Tỵ
Ông là con thứ hai của Chiêu Quang Hầu. Ông theo Bình Định Vương từ lúc ban đầu của cuộc khởi nghĩa. Ông lập được nhiều công trạng, làm đến chức Thị Cận Tỵ. Con cháu không rõ
3. Nguyễn Dã 阮 野 Dũng Quốc Công
Ông là con thứ ba của Chiêu Quang Hầu. Ông theo Bình Định Vương khởinghĩa chống quân Minh. Ông lập được nhiều chiến công và được gọi là Sơn Đầu Tướng Quân. Ông là công thần mở nước, được phong chức Đô Đốc Phủ Đô Thiêm Sự coi việc quân dân hai phủ Lâm Thao cà Đoán Hùng (tỉnh Sơn Tây). Ông được phong Dũng Quốc Công dưới triều vua Lê Hiến Tông. làm quan trải qua 5 triều nhưng về sau không hợp với vua và bị nghi ngờ, thêm vào đó gia đình không yên ông bèn đem hai con là Chất (làm quan chức Thái Úy) và Long (làm quan chức Phó tướng) cùng gia nhân sang cư ngụ ở Vân Nam và đổi thành họ Ngạc, ông lập thành họ Ngạc, về sau có con cháu đông đúc ở Vân Nam. Có nơi đọc tên ông là Dạ
3. Nguyễn Lâm 阮 林 Quản Lĩnh
Ông là con thứ 5 của Chiêu Quang Hầu. Tiểu sử không rõ. Chỉ biết ông làm quan chức Quản Lĩnh dưới triều Lê. Ông có một người con tên là Nguyễn Trạch
4. Nguyễn Lam 阮 藍
Ông là con thứ 6 của Chiêu Quang Hầu. Con cháu không rõ.
5. Nguyễn Thị Giai 阮 氏 佳
Bà là con gái thứ 6 của Chiêu Quang Hầu. Con cháu không rõ.
6. Nguyễn Thị Dự 阮 氏 預
Bà là con gái của Chiêu Quang Hầu.
7. Nguyễn Thị Biên 阮 氏 編
Bà là con gái của Chiêu Quang Hầu.
8. Nguyễn Thị Diễn 阮 氏 演
Bà là con gái của Chiêu Quang Hầu.
Ghi chú:
- Trích chiếu Tuyên dương công trạng, năm Thuận Thiên thứ 2.
- Theo một số phả, ngài mất ngày mùng 1 tháng 7 âm lịch.
- Theo một số phả, bà mất ngày mùng 5 tháng 4 âm lịch.
- Một chức quan trọng ở các ty.
Theo phả Họ Nguyễn Gia Miêu
Đời thứ Nhất: Tiên tổ Thái bảo Hoằng Quốc Công Nguyễn Công Duẩn, con trai thứ tư Chiêu Quang hầu, sinh 7 trai 3 gái. Con trai cả là Đức Trung - Trinh quốc công; thứ là Nhân Chính -Mục Quốc công; thứ ba là Như Hiếu -Châu Quận công; thứ tư là Như Trác - Phó Quốc công; thứ năm là Văn Lỗ - Sảng quốc công; thứ sáu là Văn Lễ - Lễ Khê Hầu; thứ bảy là Bá Cao - Tấn Quận công; Trưởng nữ là Thị Thẫn - Chiêu Dung; thứ nữ là Thị Thai - Chiêu Viên; gái út là Thị Ba- Sung Dung).
Khi Lê Thái Tổ khởi binh, cụ đã cùng anh hưởng ứng, nhiều lần lập công được phong Trợ Thuận hầu, nắm giữ sách Lê Hoa. Tướng giặc Mộc Thạnh nhà Minh sợ cụ như sợ hổ. Nhân đó, gọi cụ là Hổ đầu tướng quân. Cụ thường điều lương thực chấn chỉnh quân sỹ. Khi vua Lê Thái Tổ lấy được nước đã phong cụ là Trung đồng đức Khai quốc công thần, Đại đội trưởng Bắc vệ quân, Phụng trực đại phu, Đô đốc thiêm sự, lãnh việc quân dân huyện nhà. Cụ được ban quốc tính họ Lê. Lại được Vua ban thưởng 470 mẫu 5 sào ruộng quan bản huyện để làm của riêng mãi mãi, tất cả đều có các đại thần phụng tuyên. Khi mất được ban tước Thái bảo Hoằng quốc công, ban tên thụy là Bảo Toàn. Giỗ ngày 01 tháng 7, huyện, tổng, làng xã hàng năm thờ cúng. Phu nhân là Mai thị được phong là Lệnh nhân hiệu Từ Nhan, giỗ ngày 8 tháng 4, đồng táng tại núi Thiên Tôn. Phụ chép “Thượng ngự chỉ” như sau: Vua ban chỉ cho Bắc vệ quân Đại đội trưởng Nguyễn Công Duẩn trang Gia Miêu ngoại, huyện Tống Sơn, lộ Thanh Hoa, Trẫm thấy trước đây cha ông ngươi làm quan các triều Đinh, Lý, Trần hết lòng phụng sự, nhiều đời lòng ngay đạo chính, kế truyền tử tôn.
Gần đây nhà Hồ bất nhân, quân Minh dòm ngó, đem quân sang xâm lược nước ta, nhiễu loạn khắp nơi, đói kém triền miên, dân lành đau khổ. Trẫm rất đau lòng, đã tuân mệnh trời chiêu tập người hiền tài đồng tâm cứu nước, ngươi đã không quản ngại tận tâm dốc sức theo Trẫm. Khởi nguồn ở đất Lam Sơn, người đã tiến dâng lương thực tới 3.500 (hộc), đến khi quân phải lánh nạn tạm đóng ở Linh Sơn, lương thực thiếu, ngươi lại tiếp tế lương thực tới 5.300 (hộc), quân lính có lương ăn đã giải vây thoát nạn vượt sang Ai Lao, người vẫn kiên trì chuyển lương cho quân sĩ, không để thiếu lương thực bao giờ. Đến khi dẫn quân về Nghệ An, người lại chuyển tiến lương thực, tới 5.500 (hộc), muối ăn tới 300 (hộc) một cách chu toàn. Chạy ngược, chạy xuôi lo toan chu đáo. Đến các trận ở Xương Giang, Chi Lăng sông phải cạn, gió phải dừng; trận Ninh Kiều, Tốt Động thế chẻ tre, ngươi đã cấp lương, điều quân, tất cả đều trông vào sức lực của ngươi. Hợp lòng người, thuận ý trời, thắng trận yên ổn, kinh thành vững chãi, xã tắc bình an.
Nay Trẫm truyền bọn Lê Văn Linh kê cứu cổ điển luận công ban thưởng để đền đáp công lao, khỏi phụ lòng dân chúng. Duyệt các bản tấu trình, người đã điều quân, cấp lương, thủy chung kiên định, xông pha nguy hiểm, không quản hy sinh. Trẫm thấy công lao của người không thể không suy tôn, sắc bén mưu kế, chiến thắng thần kỳ, đông tây tan tác, trèo đèo lội suối, bỏ của riêng dùng cho việc nước, ai ai cũng thấy. công lao không thể kể hết được. Vậy nên gia ân vinh lộc trọng, ban tước báo công, thăng cho Nguyễn Duẩn là Phụng trực đại phu Đô đốc thiêm sự, lãnh việc quân của bản huyện. Chuẩn cho lấy số ruộng đất của các nhà tuyệt tự tiền triều, nhập quan và ruộng bỏ hoang thuộc các tổng, xã, trang bản huyện ban cho Nguyễn Duẩn làm gia sản riêng mãi mãi đến đời con cháu sau này, để đền đáp công lao. Toàn bộ số ruộng đất kê khai sau:
Chuẩn cho lấy số ruộng các nhà tuyệt tự tiền triều và ruộng hoang thuộc các trang, xã, tổng bản huyện thưởng cho Nguyễn Duẩn làm của riêng mãi mãi, tổng cộng là 470 mẫu 5 sào.
Ngày 5 tháng 9 năm Kỷ Dậu niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429), thần Lê Văn Linh phụng tuyên; thần Lê Khả phụng tuyên; thần Lê Lựu phụng tuyên; thần Lê Bôi phụng tuyên; thần Lê Khôi phụng tuyên; thần Lê Quốc Trinh phụng tuyên; thần Lê Tiến phụng tuyên./.
Theo Phả Gia Miêu. Bản gốc của chi Nhất Nguyễn Đức Trung, làng Mậu Thịnh, huyện Nga Sơn.
Phó Quốc Công 傅 國 公
Húy NGUYỄN NHƯ TRÁC 阮 如 琢
(?-? 17/07 âm lịch)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Như Trác tự là Hạo, con thứ tư của Hoằng Quốc Công Nguyễn Công Duẫn và phu nhân Mai Thị Ánh.
Ngài làm quan chức Tham Đốc, tước Hầu, dưới hai triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497) và Lê Hiền Tông (1497-1504).
Ngài mất ngày 17 tháng 7 âm lịch (không rõ năm mất), thụy là Đức Khánh.
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ
Khi mất ngài được truy phong Là Thái Bảo Phó Quốc Công. Lăng mộ và nhà thờ không rõ.
- GIA ĐÌNH
Vợ và con
Về gia đinh, chỉ biết ngài có một người con trai là Nguyễn Văn Lựu.
Anh chị em:
Ngài có 6 anh em trai và 3 chị em gái.
1- Nguyễn Đức Trung 阮 德 忠 Trình Quốc Công
Ông là con trưởng của Hoằng Quốc Công Nguyễn Công Duẫn. Ông làm quan từ đời vua Lê Thái Tổ (1428-1433), dưới triều Lê Nhân Tông, ông giữ chức Điện tiền đô chỉ huy sứ. Sau khi Lạng Sơn Vương Nghi Dân tiếm ngôi, năm Canh thìn (1460), ông cùng các đại thần phế Nghi Dân và đưa Bình Nguyên Vương Tư Thành Liêm làm vua (tức là vua Lê Thánh Tông). Năm này, ông đưa người con gái thứ hai là Nguyễn Thị Ngọc Hằng vào cung và sau này là mẹ vua Lê Hiến Tông. Năm Đinh hợi (1467) ông dẹp yên giặc ở trấn Yên Bang. Năm Canh dần (1470), ông phò xa giá đánh Chiêm Thành, trận này quân ta đại thắng. Ông là một lão tướng có công trạng, lại có con gái sinh ra Hoàng Thái Tử nên rất được nhà vua vị nể. Ông được phong là Thái Úy Trình Quốc Công.
Ông mất ngày 11 tháng 8 năm Đinh dậu (17-9-1477) (có phả chép ngày mất của ông là mồng 2 tháng 8).
Ông có 6 người con trai là Nguyễn Hữu Vĩnh, Nguyễn Công Toản, Nguyễn Công Độ, Nguyễn Công Chiêu, Nguyễn Công Nghị và Nguyễn Công Hòa và sáu người con gái là Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Ngọc Hằng, Nguyễn Thị Du, Nguyễn Thị Diễn, Nguyễn Thị Tú, Nguyễn Thị Dịch, Nguyễn Thị Túc và Nguyễn Thị Đường
2- Nguyễn Nhân Chính 阮 仁 政 Thái Bảo Mục Quốc Công
Ông là con thứ hai của Hoằng Quốc Công Nguyễn Công Duẫn. Lai lịch không rõ. Ông làm quan dưới đời vua Lê Thái Tông chức Đô Đốc Phủ Tả Đô Đốc. Về sau, lập được nhiều công trạng, ông được vinh phong Đồng Đức Công thần, Phò Quốc Thượng Tướng Quân, Trụ Quốc Thái Bảo Mục Quốc Công.
Ông có 2 người con trai là Nguyễn Đăng Cơ (Tuyên Quận Công) và Nguyễn Đăng Phụ (Tống Ban Hầu).
3- Nguyễn Như Hiếu 阮 如 孝 Châu Quận Công
Ông là con thứ ba của Hoằng Quốc Công Nguyễn Công Duẫn. Lai lịch không rõ. Ông làm quan dưới các triều Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông. Vì có quân công nên ông được phong là Trần Quốc Đại Tướng Quân Đô Đốc Phủ Tả Đô Đốc Châu Quận Công.
Khi mất, ông được ban thụy là Bảo Thuần.
Ông có 4 người con trai là Nguyễn Văn Khiêm (Huyện Thừa), Nguyễn Văn Phong (Giám Sát Ngự Sử), Nguyễn Văn Tiến (Tham Nghị) và Nguyễn Văn Thái (Lang Trung).
4- Nguyễn Văn Lỗ 阮 文 魯 Thái Úy Sảng Quốc Công
Ông là con thứ 5 của Hoằng Quốc Công Nguyễn Công Duẫn. Ông làm quan dưới các triều Lê Thánh Tông đến Lê Uy Mục (1460-1509). Năm Kỷ tỵ (1509), ông cùng con trưởng là Nguyễn Văn Lang cử binh ánh Lê Uy Mục và lập Lê Tương Dực lên ngôi (1509-1516). Nhân có công lớn, ông được phong: "Hiệp mưu Đồng đức Thượng Trụ Quốc Thái úy Sảng Quốc Công".
Ông có 8 người con trai là Nguyễn Văn Lang (Nghĩa Quốc Công), Nguyễn Địch Sầm (Phượng Quận Công), Nguyễn Tiến (Bảo Quận Công), Nguyễn Tiến (Bảo Quận Công), Nguyễn Tồn (Lãm Đống Hầu), Nguyễn Trụ (Mai Kiến Hầu), Nguyễn Lý (Bình Quận Công), Nguyễn Nghiễm (Dương Sơn Đầu) và Nguyễn Lữ (Hộ Bộ Thuợng Thư Quỳnh Sơn Hầu, tác giả cuốn phả viết từ năm 1515) và một người con gái là Nguyễn Thị Hoàng (chồng là Trạng nguyên Đỗ Tốn)
5- Nguyễn Văn Lễ 阮 文 禮 Lỗ Khê Hầu
Ông là con thứ 6 của Hoằng Quốc Công Nguyễn Công Duẫn. Lai lịch không rõ. Ông giữ chức Trấn Điện Tư Hiệu Úy dưới triều Lê. Ông được phong là Quan Tấn Trấn Quốc Tướng Quân, Lỗ Khê Hầu.
Khi mất, được ban thụy là Lương Tâm.
Ông có hai con trai là Nguyễn Đương và Nguyễn Phú
6- Nguyễn Bá Cao 阮 伯 高 Thái Phó Phổ Quận Công
Ông là con thứ 7 của Hoằng Quốc Công Nguyễn Công Duẫn. Lai lịch không rõ. Ông làm quan trải qua các triều từ Lê Thánh Tông (1460-1497) đến Lê Chiêu Tông (1516-1522). Năm Kỷ tỵ (1509), ông là một trong số các đại thần nổi lên ở Tây Đô tôn lập vua Lê Tương Dực, ông được phong là Phò Quốc Thượng Tướng quân, Thượng Trụ Thái Phó Phổ Quốc Công.
Con cháu không rõ
Về chị em gái, chỉ biết danh tánh các bà, không rõ tiểu sử.
1. Nguyễn Thị Phát 阮氏…
2. Nguyễn Thị Thai 阮氏…
3. Nguyễn Thị Ba 阮氏…
Theo phả Họ Nguyễn Gia Miêu
Trừng Quốc Công 澄 國 公
Húy NGUYỄN VĂN LỰU 阮文溜(澑)
(?-4 THÁNG 8 ÂM)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.
Ngài húy là Nguyễn Văn Lựu (cũng đọc là Lưu) con của Phó Quốc Công Nguyễn Như Trác, mẹ ngài họ Mai.
Ngài thuở bé hiếu học, tám tuổi đã biết làm văn, 15 tuổi thì võ nghệ tinh thông.
Triều Hiến tông nhà Lê (1497 -1504), ngài giữ chức Kinh Lược sứ Đà Giang, đến khi triều Uy Mục (1504-1509) vô đạo nên ngài về Tây Kinh giúp Lê Oanh (tức vua Lê Tương Dực sau này) khởi binh ở Thanh Hoa, mưu việc giữ yên xã tắc.
Năm 1516 biến loạn nổi lên khắp nơi, giặc Trần Cao chiếm lấy Đông Đô. Ngài phải đem quân từ Thanh Hoa ra, chiếm lại Đông Đô rồi rước vua Tương Dực (1509-1516) về.
Ngài được phong làm Thái Phó Trừng Quốc Công.
Ngài mất ngày mồng 4 tháng 8 âm lịch (không rõ năm mất), thụy là Chơn Tâm.
- LĂNG MỘ VÀ CÁC NƠI THỜ TỰ
Mộ ngài táng ở làng Bái Hương
Năm Quý hợi (1803), vua Gia Long cho dựng miếu ở làng Gia Miêu ngoại trang, Tống Sơn (Nay là thôn Gia Miêu, Hà Long, Hà Trung, Thanh Hóa), trong thành Triệu Tường phía tả Nguyên Miếu, gọi là miếu Trừng Quốc Công để thờ ngài.
- GIA ĐÌNH
Các vị phu nhân
1. (khuyết danh) Chính phu nhân, Bà họ Mai. Bà mất ngày 20 tháng 9 âm lịch (không rõ năm), thụy là Từ Đức. Mộ táng ở làng Bái Hương.
Con trai và con gái: Ngài có 2 người con trai; Con gái không rõ.
1. Nguyễn Kim
2. Nguyễn Tông Thái
Anh chị em: Không rõ
(Theo Nguyễn Phúc tộc Thế phả)