Hệ Nhứt
Đức Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế đã khai sáng ra Nguyễn Triều ta và lập thành Hệ Nhứt.
Ngài húy NGUYỄN-KIM, sanh năm 1468, mất năm 1545. Ngài sanh hạ được hai vị Hoàng-Tử: Tả Tưởng Lãng Quận Công Nguyễn-Uông, Đức Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế Nguyễn-Hoàng và Công Chúa Ngọc Bửu.
Lăng của ngài lên gọi là Trường-Nguyên, táng ở núi Triệu Tường, thuộc làng Quí-Hương, huyện Qui Huyện, tỉnh Thanh Hóa. Lăng của Đức Bà cũng táng gần đó.
Đức Triệu-Tổ Tịnh Hoàng-Đế và bà Nguyên Phối đều thờ tại Triệu-Miếu trong Kinh-Thành nội. Nhà thờ ngài Tả Tướng Lãng Quận Công tọa lạc gần Long-Thọ (làng Dương-Xuân) Huế.
Hiện nay, kẻ về đàn ông, Hệ Nhứt được 320 người.
Hệ Nhì
Hệ Nhì là hệ của đức Thái-Tổ Gia Dụ Hoàng-Để.
Đức Thái-Tổ Gia Dũ Hoàng-Đế sanh năm 1525, mất năm 1613. Năm 1558 ngài vào trấn thủ ở Thuận Hóa.
Ngài có mười vị Hoàng-Tử: 1.- Thái-Bảo Hòa-Quận Công, 2.- Hoàng-Tử-Hán, 3.- Hoàng-Tử-Thành, 4.- Hào- Quận Công, 5.- Hoàng-Tử-Hải, 6.- Hy-Tôn Hiểu Văn Hoàng Đế, 7.- Hoàng Tử-Hiệp, 8.- Hoàng-Tử-Trạch, 9.- Hoàng-Tử-Dương, 10.- Nghĩa-Hưng Quận Vương và hai bà Công Chúa Ngọc-Tiên và Ngọc-Tú.
Vì can quốc chánh, nên Hoàng-Tử-Hiệp và Hoàng Tử-Trạch bị tước tịch. Con cháu về sau đều lấy họ Nguyễn Thuận.
Đức Thái-Tổ Gia-Dủ Hoàng-Đế đem mấy người cháu nội là ông Hắc, ông Vỉnh (con Hoàng Tử Hán), ông Nghiêm, ông Long, ông Cương, ông Chất (con Hoàng-Tử-Hải) gởi cho vua Lê để làm tin. Mấy ông này về sau đã lập lên họ NGUYỄN-HỰU. Lăng Đức Thái-Tổ Gia- Dủ Hoàng-Đế gọi là Trường-Cơ, ở làng La-Khê, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa-Thiên. Lăng Đức Bà táng tại làng Hải-Cát cùng thuộc huyện Hương-Trà.
Ngài và Bà đều thờ tại Chánh Án Trong Thái-Miếu (Kinh Thành Nội).
Hệ Nhì có ba Phòng, nam 270 người. Mỗi Phòng đều có nhà thờ riêng. Nhà thờ ngài Hòa-Quận-Công và Hào- Quận Công đều tại làng Dương-Xuân-Hạ, tồng Cư-Chánh, huyện Hương-Thủy, tỉnh Thừa-Thiên. Nhà thờ ngài Nghĩa Hưng Quận-Vương ở làng Phổ-Nam, tồng Dương Nổ, huyện Phú-Vang, tỉnh Thừa Thiên.
Hệ Ba
Hệ Ba là hệ Đức Hy-Tôn Hiếu-Văn Hoàng-Để. Ngài sanh năm 1563, mất năm 1635. Ngài đã đổi họ NGUYỄN-VĂN thành NGUYỄN-PHƯỚC. Ngải sanh hạ 11 vị Hoàng nam: 1.— Khánh-Quận-Công. 2. – Đức Thần-Tôn Hiếu-Chiêu Hoàng-Đế, 3, – Hoàng-Tử Anh, 4. – Hoàng tử Trung, 5.– Hoàng tử An, 6, Hoàng-tử Vĩnh, 7.- Hoàng-tử-Lộc, 8. Hoàng-tử-Tứ, 9.- Hoàng-tử-Thiệu, 10. – Vinh-Quận-Công, 11. – Hoàng-tử-Đôn. Bốn hoàng nữ: Ngọc-Liên, Ngọc-Vạn, Ngọc-Khoa, Ngọc-Đĩnh.
Ngọc-Liên hạ giá cùng phò-mã Nguyễn-phước-Vĩnh, con của Mạc cảnh-Uông. Nguyễn phước-Vĩnh lập ra họ NGUYỄN-HỮU. Ngọc-Đĩnh Công-chúa kết duyên cùng Nguyễn-cửu-Kiều, người sáng lập ra họ NGUYỄN-CỮU (久)
Lăng Trường Diễn, tức lăng của Đức Hy-Tôn Hiếu- Văn Hoàng-Đế, táng tại làng Hải-Cát, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa-Thiên. Lăng của Đức Bà (Vĩnh-Diễn) hiện ở làng Chiêm-Sơn, huyện Duy-Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Ngài và Bà đều thờ tại Thái-Miếu, Ấn tả Nhứt.
Trong các vị Hoàng tử con Đức Hy-Tôn-Hiếu Văn Hoàng Đế, Hoàng-tử-Anh và Hoàng-tử-Trung, vì can quốc sự nên bị tước tịch.
Hệ Ba hiện có hai Phòng, nam được 340 người. Mỗi Phòng có nhà thờ riêng. Nhà thờ ngài Khánh-Quận-Công ở làng Dương-Nỗ, nhà thờ ngài Vinh-Quận-Công ở làng Ngọc-Anh, cả hai nhà thờ đều thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa-Thiên.
Hệ Tư
Hệ Tư là hệ của Đức Thần-Tôn-Hiếu-Chiêu Hoàng Đế.
Ngài sanh năm 1601, mất năm 1648. Ngài sanh hạ ba Hoàng-Tử: 1.– Hoàng-tử-Vỏ, 2.– Đức-Thái-Tôn-Hiếu Triết Hoàng Đế, 3.– Hoàng tử Quỳnh và một là Công Chúa (danh tự thất tường).
Lăng ngài Thần-Tôn-Hiếu-Chiêu Hoàng Để gọi là Trường-Diên, láng tại làng An-Bằng, huyện Hương-Thủy, tỉnh Thừa-Thiên. Lăng của Đức bà tên gọi Vĩnh-Điện, ở làng Chiêm-Sơn, huyện Duy-Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Đức Thần-Tôn-Hiếu-Chiêu Hoàng-Đế và hà Nguyên-Phối đều thờ lại Thái-Miếu, Án Hữu Nhứt.
Hoàng tử Vỏ và Hoàng tử-Quỳnh mất sớm thành vô tự, vì thế nên hệ tư không có.
Hệ Năm
Đức Thái-Tôn-Hiếu-Triết Hoàng-Đế khai sáng ra Hệ Năm.
Ngài sanh năm 1620, mất năm 1687, sanh hạ được sáu Hoàng tử: 1.- Phước Quốc-Công, 2.– Anh-Tôn-Hiếu- 2- Nghĩa Hoàng-Đế, 3. – Cương-Quận-Công, 4.– Quốc Oai- Công, 5.– Hoàng-tử Niên, 6.– Hoàng-tử-Nhiều và ba Hoàng nữ: Công Chúa Ngọc-Tào và hai bà thất tường.
Lăng Đức Thái Tôn-Hiếu-Triết Hoàng-Đế (Trường Hưng), ở làng Hải-Cát, huyện Hương-Trà, tỉnh Thừa-Thiên. Lăng của Đức Bà (Vĩnh Hưng) ở làng An-Ninh, huyện Hương-Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Ngài lại còn một bà thứ hai nữa, láng tại lăng Quang-Hưng ở làng Định-Môn, huyện Hương-Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Ngài và hai bà đều thờ tại Thái-Miếu, Tả nhị án.
Hệ năm hiện có ba phòng nam 300 người. Ba nhà thờ: nhà thờ ngài Phước Quận-Công ở làng La-Ỷ, lồng Dương- Nô, nhà thờ ngài Cương Quận-Công ở làng Lại Thế, tổng Ngọc Anh. Hai nhà thờ này đều ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Nhà thờ ngài Quốc Oai-Công ở làng Vân-Thê, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Hệ Sáu
Đức Ngài Anh-Tôn-Hiểu-Nghĩa Hoàng Để sanh năm 1649, mất năm 1691. Ngài sanh hạ năm Hoàng tử: 1. – Hiền-Tôn-Hiếu-Minh Hoàng-Đế, 2. Hoàng tử Tuấn, 3. – Hoàng tử Toàn, 4.– Hoàng-tử Trinh, 5.– Hoàng- tử Quảng và các bà Công-chúa : Ngọc-Nhiệm, Ngọc Niểu và 2 bà nữa tên tuổi không rõ.
Lăng đức Anh-Tôn-Hiếu-Nghĩa Hoàng Đế (Trường Mậu), ở làng Kim-ngọc, huyện Hương-trà, tỉnh Thừa Thiên. Lăng của Đức Bà (Vĩnh-Mậu) ở làng Định môn, huyện Hương-Trà.
Ngài và Bà đều thờ tại Thái-Miếu, Hữu nhị án.
Ngoài Đức Hiển-Tôn-Hiếu-Minh Hoàng-Để ra, các vị Hoàng tử khác đều vô tự cả, nên không có hệ sáu.
Hệ Bảy
Hệ bảy là hệ của Đức Hiền-Tôn-Hiếu-Minh Hoàng Để. Ngài sanh năm 1675, mất năm 1725, sanh hạ 38 Hoàng tử, và 4 Hoàng-nữ. 1. Đức Túc-Tôn-Hiếu-Ninh Hoàng-Để, 2. Hoàng-tử Thề, 3. Không rõ, Hoàng-tử Long, 5. – Hoàng-tử Hải, 6. Không rõ, 7.– Hoàng tử Liêm, 8.– Luân quốc Công, 9.– Hoàng tử Thử, 10.– Hoàng tử Lân, 11. – Hoàng tử Chấn, 12– Nhân- quốc Công, 13. Hoàng-tử Hàng, 14. – Hoàng tử Thiện, 15.- Hoàng-tử Khánh, 16.– Hoàng tử Cảo, 17.– Hoàng tử Binh, 18. Chưởng cơ Quận công, 19. – Chưởng vệ Hoàng-tử Khảm, 21,Quận công, 20. Hoàng-tử Quân, 22.– Hoàng-tử Luân, 23. Hoàng tử Binh, 24.— Hoàng. tử Tôn, 25. Hoàng-tử Nghiễm, 26. – Hoàng tử Hưng, 27.- Thiếu bảo Thạnh Quận công, 28.– . Hoàng tử Hao, 29. -- Hoàng-lữ Kỷ, 30.– Hoàng tử Thuyên, 31. — Hoàng- Tu Hanh, 32. – Hoàng tử Lộc, 33. Hoàng-tử Triêm,
34.– Hoàng tử Khiêm, 35, 36, không rõ, 37.- Hoàng tử Độ, 38. Hoàng tử Tài và các bà Chúa : Ngọc Sang, Ngọc-Phụng, Ngọc-Nhật và một bà không rõ.
Lăng Đức Hiển-lôn Hiểu-Minh Hoàng Đế (Trường Thanh) ở tại làng Kim-ngọc, lăng của Đức Bà (Vĩnh-Thanh) ở làng Trúc-lâm, hai lăng này đều thuộc huyện Hương- trà, tỉnh Thừa thiên
Ngài và Bà đều thờ tại Thái-Miếu, Tả Tam án
Hệ Bảy hiện có 27 Phòng, nam được 1.420 người.
Mỗi Phòng đều có nhà thờ riêng và đều ở tỉnh Thừa thiên, trong các huyện Phú-lộc, Hương-trà, Hương thủy, Ở Tôn-thất xã, tổng An-nông, có nhà thờ ngài Hoàng Nhị- tử ; cùng trong tổng ấy, ở làng Xuân-lai có nhà thờ ngài Hoàng Nhị-thập-nhứt-tử. Nhà thờ ngài Hoàng Thập ngũ tử, ngài Hoàng Tam thập-tử ở làng Vinh hòa, ngài Hoàng tam thập-tam-tử ở làng Phú-an cũng đều lại tổng Diêm trường.
Các ngài Hoàng Tứ-tử, Ngũ-tử, Thập nhị, Thập-lục, Nhị-thập-ngũ, Nhị thập-lục-tử đều thờ tại làng An cựu, làng An-cựu, ngài Hoàng Cửu-tử có nhà thờ lại làng Lương quán, tổng Cư-chánh; ngài Hoàng Nhị thập tử thờ tại làng Bằng-lảng, tổng Cư-chánh, huyện Hương thủy.
Hệ Tám
Đức Túc-Tôn-Hiếu-Ninh Hoàng-Đế khai-sáng ra Hệ tám. Ngài sanh năm 1696, mất năm 1738, sanh-hạ ba Hoàng-tử: 1. — Thế-Tôn-Hiếu-Võ Hoàng Đế, 2. – Thiếu- Bảo Nghiễm Quận công, 3.– Tường-Quan-Hầu, và các bà chúa : Ngọc-Sách Ngọc-Doãn, Ngọc Biện, Ngọc Uyển và một bà không rõ.
Lăng của ngài Túc-Tôn-Hiếu-Ninh Hoàng-Để tên gọi Trường-Phong, ở làng Định-môn, lăng của Đức-Bà (Vinh- Phong) ở làng Long-Hồ, đều thuộc huyện Hương-trà, tỉnh Thừa thiên.
Ngài và Bà đều thờ tại Thái-Miếu, Hữu tam án
Hệ tám chỉ có hai phòng, đàn ông được 94 người. Nhà thờ ngài Thiếu Bảo Nghiễm Quận công thờ tại làng An- ninh-thượng, tỗng An-ninh, huyện Hương-trà, nhà thờ ngài Tường-quan-Hầu thờ tại làng Dương xuân thượng, tổng Cư-chánh, huyện Hương-thủy, tỉnh Thừa-thiên.
Hệ Chín
Hệ chín là Hệ của Đức Thế Tôn-Hiếu-Võ Hoàng-Đế. Ngài sanh năm 1714, mất năm 1765. Ngài có 18 Hoàng- tử: 1.– Hoàng tử Chương, 2.– Đức Hưng-Tổ-Hiếu- Khương Hoàng-Đế, 3.– Hoàng-tử Mão, 4. — Thành Quận- Công, 5.— Hoàng-tử Dục, 6. – Hoàng tử Điệc. 7. Hoàng- tử Kỉnh, 8.- Hoàng-tử Bản. 9. – Tuyên-Vương, 10.-- Hoàng-tử Yến, 11. – Hoàng tử Tuấn, 12. - Hoàng lử khoản, 13. – Hoàng tử Đản, 14. - Hoàng-tử Quyền, 15. Hoàng tử Diệu, 16.– Đức Duệ-Tôn Hiếu-Định Hoàng Đế, 17. – Hoàng tử Xuân, 18.– Phước long công, và các bà Chúa : Ngọc Huyên. Ngọc Nguyện, Ngọc-Thành, Ngọc-Ái, Ngọc-Nguyệt, Ngọc Cư, Ngọc-Thọ, Ngọc Xuyến, Ngọc Diệu, và Ngọc-Cơ.
Lăng của Đức-Thế-Tôn-Hiếu-Vỏ Hoàng Đế tên gọi Trường-Thái táng ở làng La-Khê, huyện Hương-trà, tỉnh Thừa-Thiên ; lăng của Đức Bà tên gọi Vĩnh Thái táng ở làng Dương-xuân, huyện Hương-thủy, tỉnh Thừa-Thiên,
Đức Thế-Tôn-Hiếu-Võ Hoàng Đế và Đức-Bà đều thờ tại Thái-Miếu, Tả tử án.
Hệ chín có 7 phòng, nhân số nam được 350 người.
Nhà thờ ngài Hoàng lục tử và Hoàng Thập-thất-tử đều tọa-lạc tại làng Dương-xuân, tổng Cư-chánh, huyện Hương-thủy; ngài Hoàng Tam tử nhà thờ tại làng Long-hồ, tổng An-ninh, huyện Hương-trà, ngài Hoàng Tứ tử nhà thờ tại làng Phổ trung, huyện Phú-vang, ngài Hoàng Thất tử nhà thờ tại làng Xuân-lai, tổng An-nông, huyện Phú-lộc, ngài Hoàng Thập tử nhà thờ tại làng Dương-phẩm, tổng An- cựu, huyện Hương-thủy, ngài Hoàng Thập-bát tử nhà thờ ở làng Công-lương, tổng An-cựu, huyện Hương thủy, tỉnh Thừa-Thiên.
Đến Hệ Chín thì vừa hết các hệ Tôn-Thất.
Hai vị Hoàng tử con Đức Thế-Tôn-Hiếu-Võ Hoàng-Để là Đức Duệ-Tôn Hiếu Định Hoàng-Đế và Đức Hưng-Tổ- Hiếu Khương Hoàng-Đế. Đáng lẽ hai ngài này đều có khai sáng mỗi ngài một Hệ riêng, nhưng vì Đức Duệ Tôn lại chỉ sanh được một bà Chúa, còn Đức Hiếu-Khương, ngoài Đức Thế-Tổ-Cao Hoàng Đế khai sáng hệ Nhứt Chánh, thì không còn vị Hoàng-Tử nào nữa.
Lăng Đức Duệ-Tôn Hiếu Định Hoàng-Đế (Trường Thiệu) ở tại làng La-Khê, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa-Thiên, còn lăng của Đức Bà vì lâu ngày thất lạc nên hiện không biết ở đâu.
Đức Duệ-Tôn-Hiếu Định Hoàng Đế và Bà đều thờ tại Thái-Miếu, Hữu tử án.
Lăng Đức Hưng-Tổ-Hiếu-Khương Hoàng-Đế (Cơ-Thánh) táng lại làng Cư-Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, lăng của Đức bà (Thoại-Thánh) ở làng Định- Môn, huyện Hương Trà. Ngài và Bà đều thờ ở Hưng Miếu tại Kinh Thành nội. Cả thảy 9 Hệ, trừ hệ tư và hệ sáu, vì vô tự, nên hiện chỉ còn 7 Hệ mà thôi. Theo bản tổng kê kỳ tháng hai năm 1942, các hệ Tôn-Thất gồm có năm 3,100 và nữ 2.800 người.