Hệ Nhứt Chánh
Hệ Nhứt Chánh là Hệ của các vị Hoàng Tử con Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế (Gia-Long).
Vua Gia-Long sanh năm 1762, mất năm 1819. Sau khi đã bình định nước Việt Nam, ngài tức Hoàng Đế vị năm 1802 và khai sáng ra Nguyễn Triều.
Ngài có 13 vị Hoàng Tử và 18 vị Hoàng Nữ:
Hoàng Tử: 1- Đông Cung Nguyên Soái Tăng-Duệ Hoàng-Thái-Tử, 2 – Thuận-An-Công, 3 Hoàng-tử-Tuấn, 4 – Thánh-Tổ-Nhơn-Hoàng-Đế (Minh-Mạng), 5 – Kiến-An-Vương, 6 – Định-Viễn Quận-Vương, 7 – Diên-Khánh-Vương, 8 – Điện-Bàng-Công, 9 — Thiệu-Hoá-Quận-Vương, 10.- Quản-Oai-Công, 11 Thường-Tín Quận-Vương, 12 – An-Khánh Quận-Vương, 13 – Từ-Sơn Công.
Lăng của các ngài là lăng Thiên-Thọ, không mấy người không biết, thuộc địa phận làng Định Môn, huyện Hương- trà, tỉnh Thừa-Thiên. Lăng bà Thừa Thiên Cao-Hoàng-Hậu và bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, nguyên phối và đệ nhị phối của ngài cũng đều táng tại vùng ấy cả.
Ngài và hai bà đều thờ tại Chánh án Thế Miếu và tại Chánh án điện Phụng tiên ở Kinh Thành nội.
Hệ Nhứt chánh gồm có 9 phòng, tổng cộng về nam được 380 người.
Sau đây là bản kể tên các phòng, thể thứ các vị Hoàng- tử và chỗ nhà thờ tọa lạc:
Thế-Thứ TƯỚC CỦA CÁC VỊ HOÀNG-TỬ CHỖ NHÀ THỜ TOA-LAC
1 Tăng-Duệ Hoàng Thái-Tử Làng Vân-dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên
5 Kiến-An-Vương Ấp Hô Lâu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên
6 Định-Viễn Quận-Vương Làng Dương-nổ, huyện Phú- vang, tỉnh Thừa thiên
7 Diên Khánh-Vương Làng Vi-dạ, huyện Phủ-vang, tỉnh Thừa thiên.
8 Điện-Bàng-Công Làng Thần phủ, huyện Hương thủy, tỉnh Thừa thiên.
9 Thiệu Hoá Quận Vương Làng Vỉ dạ, huyện Phú-vang, tỉnh Thừa thiên.
11 Thường-Tín Quận-Vương Làng Xuân-vinh, huyện Phú- lộc, tỉnh Thừa thiên.
12 An-Khánh-Vương Xã Xuân-hòa, huyện Hương trà, tỉnh Thừa thiên.
13 Từ-Sơn-Công Làng Xuân hòa, huyện Hương trà, tỉnh Thừa-thiên
Hệ nhì Chánh là Hệ của các vị Hoàng tử con Đức Minh- Mạng (Thánh Tổ Nhơn Hoàng Đế).
Đức Thánh lỗ Nhơn Hoàng Để sanh năm 1791, mất năm 1840. Ngài có 78 Hoàng nam và 64 Hoàng nữ.
Hoàng nam: 1- Đức Hiến Tổ Chương Hoàng Đế, 2- Hoàng tử Chánh, 3- Thọ Xuân Vương, 4- Ninh Thuận Quận Vương, 5- Vĩnh Tường Quận Vương, 6- Phú Bình Quận Vương, 7- Nghi Hoà Quận Công, 8- Phù Mỹ quận công, 9- Hàm Thuận quận công, 10- Tùng Thiện Vương, 11- Tuy Lý Vương, 12- Tương An quận vương, 13- Tuân quốc công. 14- Hoàng tử Hưu, 15- Lạc Hóa quận công, 16- Hà Thanh quận công, 17- Hoàng tử Thành, 18- Nghĩa Quốc công, 19- Tảo thương, 20- Tảo thương, 21- Hoàng-tử Nghi, 22- Hoàng tử Long, 23- Trấn Mang Quận Công, 24- Tảo thương, 25- Tảo thương, 26- Sơn Định Quận Công, 27- Tân Bình quận công, 28- Hoàng tử Trạch, 29- Qui Châu quận vương, 30- Quản Ninh quận vương, 31- Sơn Tịnh quận công, 32- Quản Biên quận công, 33- Lạc Biên quận công, 34- Hoàng-tử Hoan, 35- Ba Xuyên quận công, 36- Kiến Tường công, 37- Hòa Thạnh vương, 38- Tảo thương, 39- Tảo thương, 40- Hòa quốc công, 41- Tuy An quận công, 42- Hải quốc công, 43- Hoàng-tử Tính, 44- Tây ninh quận công, 45- Trấn tịnh quận công, 46- Tảo thương. 47- Quảng Trạch quận công. 48- An quốc công, 49- Tịnh gia công, 50- Tảo thương, 51- Trấn Biên quận công, 52- Điện Quốc công, 53- Tuy Biên quận công, 54- Quế Sơn quận công, 55- Phong Quốc công, 56- Trấn Định quận công, 57- Hoài Đức quận vương, 58- Duy Xuyên quận công, 59- Cẩm Giang quận công, 60- Quản Hóa quận công, 61- Nam Sách quận công, 62- Hoàng-tử Tru, 63- Hoàng-tử Khê, 64- Hoàng-tử Ngữ, 65- Trấn Quốc công, 66- Hoằng Hóa quận vương, 67- Hoàng-tử Tuất, 68- Tân An quận công, 69- Bảo An quận công, 70- Hậu Lộc quận công, 71- Kiến Hòa quận công, 72- Kiến Phong quận công, 73- Vĩnh Lộc quận công, 74- Phù-Cát quận công, 75- Cầm Xuyên quận vương, 76- An xuyên vương, 77- Hoàng tử Sách. 78- An Thành vương.
Lăng của Đức Minh Mạng, là Hiểu-Lãng, tại làng An.bằng, huyện Hương-trà, tỉnh Thừa-thiên. Lăng của bà Tá Thiên Nhơn Hoàng Hậu gọi là Hiếu Đông Lăng, tại làng Cư chánh, huyện Hương thủy, tỉnh Thừa-thiên.
Ngài và bà đều thờ ở Tả-nhứt-Án tại Thế-Miếu và Tả nhứt-Án điện Phụng-Tiên.
Hệ Nhì Chánh là hệ đồng nhứt trong các hệ, gồm có 56 phòng và nam 1.800 người.
Các vị Hoàng tử con đức Thiệu-Trị (Hiến-Tổ-Chương Hoàng-Đế) họp lại thành Hệ Ba chánh.
Đức Thiệu-Trị sanh năm 1807, mất năm 1847, sanh hạ được 29 Hoàng tử và 3 Hoàng nữ.
Hoàng Tử: 1- An-Phong quận-vương, 2- Đức Dục- Tòn-Anh Hoàng-Đế, 3- Thái Thạnh quận-vương, 4- Thoại-thái-vương, 5- Hoàng-tử Kiêm, 6- Hoằng-Trị vương, 7- Vĩnh-quốc-công, 8- Gia-Hưng-vương, 9- Phong-lộc quận vương, 10- An-Phước quận-vương, 11- Hoàng tử Thiệu, 12- Tuy-Hòa quận-vương, 13- Hoàng-tử Bàng, 14- Hoàng-tử Sâm, 15- Hoàng-tử Trứ, 16- Hương Sơn quận công, 17- Hoàng tử Thi, 18- Mỹ Lộc quận công, 19- Tảo thương, 20- Hoàng-tủ Hy, 21- Hoàng tử Cơ, 22- Hoàng-tử Trụ, 23- Kỳ-Phong quận-công, 24- Tảo thương, 25- Phú Lương Công, 26- Thuần Nghị- Kiên thái vương, 27- Tảo thương, 28- Hoàng tử Nghê, 29- Văn Lảng quận vương (Hiệp-Hòa Phổ-Đế).
Lăng đức Thiệu-Trị (Xương-Lăng) láng tại núi Thuận- Đạo, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Lăng của bà Nghi Thiên-Chương Hoàng-Hậu (Xương-thọ lăng) ở tại làng Cư Chánh huyện Hương thủy. Đức Thiệu trị và bà Nguyễn.
Phối đền thờ tại Thế-Miếu Hữu nhức ăn và tại Hữu Nhứt ản điện . Phụng-Tiên.
Hệ Ba Chánh, kể về nam nhân số 280 người mà gồm có 15 Phòng cả thảy.
Hệ Tứ chánh là Hệ của các vị Hoàng tử con nuôi đức Dục-Tôn-Anh Hoàng-Đế (Tự-Đức).
Đức Dục-Tôn-Anh Hoàng Đế sanh năm 1829, mất năm 1883, vì không con nên phải nuôi ba người cháu: Đức Cung-Tôn-Huệ Hoàng-Đế (Dục Đức) con ngài Thoại-thái- vương, đức Cảnh-Tôn Thuần Hoàng Đế (Đồng-Khánh) và đức Giản tôn-Nghị Hoàng-Đế (Kiến-Phước) đều con của ngài Kiên-Thái-Vương.
Khiêm-lăng (lăng của đức Tự-Đức) ở tại làng Dương-Xuân Thượng, huyện Hương thủy. Lăng của bà Lệ Thiên-Anh Hoàng-Hậu gọi là Khiêm-thọ lăng cũng ở vùng ấy.
Ngài và bà đều thờ lại án Tả nhì Thế Miếu và án Tả nhì điện Phụng tiên.
Trong ba ngài con nuôi của đức Dực-Tôn-Anh Hoàng-Đế, ngài Giản-Tôn mở ra Hệ Ngũ-Chánh, ngài Cảnh- Tòn mở ra Hệ Lục Chánh, nên hệ Tử chánh chỉ còn đức Cung-Tôn-Huệ Hoàng-Đế mà thôi. Đức Cung-Tôn Huệ Hoàng-Để sanh năm 1852, mất năm 1881 Ngài có 11 Hoàng tử và 8 Công chúa.
Hoàng-tử : 1- Hoàng-tử Cương, 2- Hoàng-tử Thị, 3- Hoàng-tử Mỹ, 4- Hoàng-tử Nga, 5- Hoàng tử Nghi, 6- Hoàng-tử Cồn, 7- Hoài-Trạch-công (Thành-thái), 8- Hoàng tử Chuân, 9- Tuyên-hóa-vương, 10- Hoài ân-vương, 11- Mỷ-hóa-công.
Trong 8 vị Công chúa hiện hai ngài đang còn là ngài Hoàng-trưởng-nữ Mỹ-lương Công chúa và ngài Tân phong Công-chúa.
Ngài và Bà táng tại làng An-lăng ở làng An-cựu, huyện Hương thủy, tỉnh Thừa thiên và thờ lại Cung-Miếu ở Kinh-thành-nội.
Hệ Tử Chánh có 4 phòng, nhân số nam được 60 người.
Ngài Nguyễn Phúc Ưng Chân (阮 福 膺 禛) Ưng Ái
Niên hiệu: Dục Đức (育德) (20/7 - 23/7/1883)
Đức Cung Tôn Huệ Hoàng Đế là Trưởng Tử của Vua Tự Đức (con nuôi).
Thọ lãnh di chiếu của Vua Tự Đức, Ngài được tôn lên ngôi kế vị ngày 20/7/1883 niên hiệu Dục Đức. Sau 3 ngày đăng quang, ngày 23/7/1883, các đại thần phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, cưỡng chế bắt giam ở Dục Đức Đường, rồi tôn lập Ngài Văn lãng Quận Công, húy Nguyễn Phúc Hồng Dật (em thứ 29 của Đức Vua Tự Đức) lên ngôi.
Đức Dục Đức băng hà ngày 6/10/1883.
Lăng của Ngài hiệu An Lăng, tại làng An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Ngài có 11 Hoàng Tử và 8 Công Chúa. Hệ Tư Chánh có 4 phòng.
(Trích Hoàng Tộc Lược Biên)