Lễ HƯNG QUỐC KHÁNH NIỆM 興國慶念
Hai trăm hai mươi bốn năm trước, ngày mùng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (01.6.1802), Chúa Nguyễn Phúc Ánh đã thống nhất giang sơn, ban hành niên hiệu Gia Long, chính thức sáng lập một triều đại mới của đất nước - Triều đại nhà Nguyễn. Hai năm sau (1804) Quốc hiệu Việt Nam 越 南 ra đời.
Năm 1918, vua Khải Định đã lấy ngày này làm ngày Quốc khánh của nước Nam ta, đến năm 1919 gọi là ngày lễ Hưng Quốc Khánh Niệm 興國慶念 。
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay lễ Hưng Quốc Khánh Niệm không còn được tổ chức, nhưng dấu ấn về về một ngày lễ đặc biệt nhằm nhắc nhở tinh thần uống nước nhớ nguồn, tri ân Tiên Tổ Vương Triều Nguyễn vẫn còn được lưu giữ trong sử sách và trong mỗi người con của Nguyễn Phúc Tộc.
Hôm nay, nhân 224 năm lễ Hưng Quốc Khánh Niệm của triều Nguyễn, xin nhắc lại để ghi nhớ công lao của các Chúa Nguyễn và Vua Nguyễn, đã mở rộng biên cương đất nước, cùng các vùng biển đảo, đã để lại cho hậu thế nhiều di sản cho đến tận mai sau.
Hoàng Đế Gia Long thăng hà vào ngày 3.2.1820. Triều thần tôn thụy hiệu là:
Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao Hoàng Đế.
(開天弘道 l立紀垂統神文聖武俊德隆功至仁大孝高皇帝) (世祖)。
Nghĩa là:
Đức Cao Hoàng Đế lập thiên hạ, mở đạo lý, dựng kỷ cương, danh chính thống, văn như thánh, võ như thần, đức nghiệp lớn, huân công cao, rất nhân từ, thật hiếu thảo. Miếu hiệu là Thế Tổ.
Trong truyện ngắn "Lời than của bà Trưng Trắc” (Les lamentations de Trung Trac) do tác giả Nguyễn Ái Quấc viết bằng tiếng Pháp, đăng trên báo L’Humanité (Nhân Đạo) tại Pháp, số ra ngày 24.6.1922 có đoạn chép:
Với lòng quả cảm vô song và với một đức hạnh trong sáng không tì vết, giống như thỏi vàng óng ánh sau ngàn lần thử lửa, Vua Gia Long tôn quý và tài ba bội phần, sau biết bao thăng trầm và khổ đau vô bờ, đã để lại một đất nước giàu có một dân tộc độc lập, một quốc gia được các kẻ mạnh vị nể và kẻ yếu kính mến, với một tương lai đầy sức sống và triển vọng.
TRI ÂN VIỆT NAM THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ - ĐỨC VUA GIA LONG.
HƯỚNG VỀ LỄ HÚY KỴ QUỐC CHÚA NGUYỄN PHÚC CHU
Ải Lĩnh Xuân Vân là bài thơ của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu sáng tác khi đi qua vùng Ải Lĩnh - khu vực hiểm yếu nơi ranh giới Thuận Hóa và Quảng Nam xưa, nay gắn với đèo Hải Vân.
Qua hình ảnh núi cao, mây phủ và đường đèo cheo leo, bài thơ không chỉ khắc họa vẻ hùng vỹ của non sông phương Nam mà còn thể hiện tấm lòng ưu tư dân sinh của Quốc Chúa. Hai câu cuối gửi gắm ước nguyện mưa thuận gió hòa, ruộng dâu tươi tốt, phản ánh tinh thần trị quốc an dân rất rõ trong tư tưởng của Ngài.
Đặc biệt, việc Quốc Chúa nhiều lần sử dụng hai chữ “Việt Nam” trong thơ văn và bi ký cho thấy ý thức về một cõi phương Nam có giang sơn và vị thế riêng biệt đã hình thành khá sớm. Trước khi Vua Gia Long chính thức xác lập quốc hiệu “Việt Nam”, thì trong tư tưởng của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, tên gọi ấy dường như đã sớm mang dáng hình của một quốc gia phương Nam độc lập.
Dịch thơ:
MÂY XUÂN ẢI LĨNH
Việt Nam hiểm yếu núi cao vời,
Đèo dựng chênh vênh tựa Thục trời.
Mây giăng ba lớp che non biếc,
Người vượt muôn đường lạc núi khơi.
Gió rét thấm thân như sương phủ,
Mưa dầm ướt áo tự suối trôi.
Chỉ ước gió xuân thành mưa ngọt,
Ruộng dâu muôn dặm thắm cho đời.
Mùa Phật Đản - Phật lịch 2570
HƯỚNG VỀ LỄ HÚY KỴ ĐỨC TÚC TÔNG HIẾU NINH HOÀNG ĐẾ
(CHÚA NINH húy NGUYỄN PHÚC THỤ)
Từ người cha dựng nền, sang người con kế thừa - giữ vững thời cực thịnh của Đàng Trong.
Nếu Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu là người góp phần hoàn thiện nền tảng chính trị, văn hóa và tinh thần cho cõi Việt phương Nam sau thời kỳ mở cõi mạnh mẽ, thì Đức Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng Đế - Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ lại là người tiếp nối và giữ vững cơ nghiệp ấy trong giai đoạn Đàng Trong bước vào thời kỳ ổn định và phát triển.
Sau bài viết tưởng niệm 301 năm húy nhật Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, nay xin được chia sẻ lại bài viết cũ về Đức Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng Đế như một sự tiếp nối của dòng chảy lịch sử, văn hóa và tinh thần dưới thời các Chúa Nguyễn đầu thế kỷ XVIII.
Ba năm trước, tôi từng có một bài viết về Đức Túc Tông Hiếu , Ninh Hoàng Đế - Chúa Ninh húy Nguyễn Phúc Thụ, với mong muốn góp phần khắc nhớ công lao của một vị Chúa Nguyễn có vai trò rất quan trọng trong tiến trình ổn định và phát triển Đàng Trong.
Càng đọc lại sử liệu, càng thấy giá trị lớn nhất dưới thời Đức Túc Tông không nằm ở những chiến công hiển hách, mà nằm ở việc củng cố nền móng cho vùng đất phương Nam sau thời kỳ mở cõi mạnh mẽ của các đời trước.
Nếu các Chúa Nguyễn tiền kỳ là những người khai phá bờ cõi, thì dưới thời Đức Túc Tông, Đàng Trong bắt đầu bước sang giai đoạn: ổn định lãnh thổ – kiện toàn quản trị – củng cố biên cương – phát triển thương mại – xây dựng kỷ cương xã hội cho vùng đất mới.
Chính trong thời kỳ này:
- Gia Định được tăng cường tổ chức quân sự và hành chính sau những biến động từ Chân Lạp.
- Chức Điều Khiển được thiết lập nhằm thống nhất quyền chỉ huy nơi biên cương phương Nam.
- Trường đúc tiền được thành lập tại Phú Xuân, phản ánh tư duy tài chính và quản trị của một chính quyền Nam Hà ngày càng hoàn chỉnh.
- Hà Tiên dưới thời Mạc Thiên Tứ được nâng đỡ phát triển thành thương cảng phồn thịnh, đồng thời là trung tâm văn hóa nổi bật với Chiêu Anh Các.
- Đồng hồ “Tự Minh Chung” được chế tạo và sử dụng tại các dinh trấn – một dấu ấn đặc biệt về kỹ thuật và năng lực quản trị thời bấy giờ.
Không chỉ vậy, Đức Túc Tông còn là một vị Chúa mang đậm tinh thần đạo học và Phật giáo. Ngài lấy đạo hiệu là Vân Tuyền Đạo Nhân 雲泉道人, thường dùng đạo lý để giáo hóa dân chúng, khuyến thiện, giữ gìn nề nếp và ổn định xã hội nơi vùng đất mới.
Dưới thời Ngài, nhiều ngôi chùa ở Đàng Trong được triều đình sắc tứ và bảo trợ. Theo Đại Nam nhất thống chí, năm Quý Sửu 1733 (Long Đức nhị niên), Đức Túc Tông đã sắc phong cho thiền sư Lê Ban (tục gọi Ông Núi) pháp hiệu “Tịnh Giác Thiện Trì Đại Lão Thiền Sư”, đồng thời ban hoành phi và câu đối cho chùa Linh Phong ở Phù Cát, Bình Định.
Bức hoành phi ngự ban khắc bốn chữ: 靈峰禪寺 Linh Phong Thiền Tự, phía trái khắc: 龍德癸丑孟春 Long Đức Quý Sửu mạnh xuân (*), phía phải khắc 國主御題 Quốc Chủ ngự đề.
Chúa cũng ban hai câu đối:
Hải ngạn khởi lương nhân, Pháp vũ phổ thiên tư Phật thổ,
Linh Phong ngưng thụy khí, Tường vân biến địa ấm nhân gian.
Bản chữ Hán:
海岸起良因, 法雨普天滋佛土,
靈峰凝瑞氣, 祥雲遍地蔭人間。
Tạm dịch:
Ven biển khởi duyên lành, mưa pháp khắp trời thấm nhuần cõi Phật,
Núi Linh ngưng khí tốt, mây lành khắp chốn phủ mát nhân gian.
Cũng theo Đại Nam nhất thống chí, chùa Hộ Quốc ở Đồng Nai do Chánh Thống suất Nguyễn Cửu Vân kiến lập đã được ban biển ngạch vàng mang dòng chữ: 敕賜護國寺 (Sắc tứ Hộ Quốc tự), phía hữu khắc: 國主雲泉道人御題 (Quốc chủ Vân Tuyền Đạo Nhân ngự đề), phía tả khắc những chữ: 龍德四年歳次乙卯仲冬 (Long Đức tứ niên, tuế thứ Ất Mão, trọng đông cốc đán). Điều đó cho thấy Đức Túc Tông không chỉ bảo trợ Phật giáo, mà còn trực tiếp ngự đề biển ngạch cho các ngôi cổ tự nơi phương Nam buổi đầu khai phá.
Qua những dòng ngự đề được sử sách ghi chép lại có thể thấy rõ tinh thần hộ trì Phật giáo, dùng đạo lý để an dân dưới thời Vân Tuyền Đạo Nhân.
Đối với các Chúa Nguyễn, chùa chiền không chỉ là nơi tín ngưỡng, mà còn là nền tảng văn hóa – tinh thần của cư dân trên vùng đất mới; qua đó cũng thấy rõ việc mở cõi không chỉ bằng gươm giáo, mà còn bằng văn hóa, tín ngưỡng và đạo lý để giữ lòng người và xây dựng nền tảng lâu dài cho Đàng Trong.
Có lẽ, giá trị lịch sử cốt lõi dưới thời Đức Túc Tông chính là việc giữ vững và ổn định cơ nghiệp Đàng Trong, để vùng đất phương Nam từ buổi đầu khai phá từng bước trở thành một thực thể chính trị – xã hội ngày càng bền vững.
Nhân lễ Húy Kỵ sau 288 năm băng hà của Đức Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng Đế, xin được chia sẻ lại bài viết cũ như một nén tâm hương tưởng niệm công đức tiền nhân đã dày công gây dựng và gìn giữ bờ cõi nước Nam.
https://www.facebook.com/share/p/17c2R3AZjQ/
Ghi chú:
(*) Về biển ngạch chúa Nguyễn Phúc Thụ ban cho chùa Linh Phong ở Bình Định, theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn (tr. 58 bản dịch) chép rõ: “…năm Quí Sửu Túc Tông thứ 9 (tức năm Lê Long Đức thứ 2 - 1733) sắc phong là Tĩnh Giác Thiện Trì Đại Lão Ông thiền sư, lại ban cho biển ngạch và câu đối, nay vẫn còn…”. Tuy nhiên, một số tư liệu hiện nay lại chép lạc khoản là “Vĩnh Khánh Quý Sửu mạnh xuân”, là điểm không phù hợp với niên đại được ghi trong sử liệu. Điều này có thể liên quan đến quá trình sao chép, phục dựng hoặc truyền chép văn bản qua nhiều giai đoạn; do đó, việc đối chiếu và tiếp cận tư liệu với tinh thần thận trọng học thuật là điều cần thiết.